Rượu tỏi phòng và chữa bệnh

Ai Cập tuy là một nước nghèo, khí hậu khắc nghiệt nhưng người dân lại khỏe mạnh và sống lâu. Tổ chức Y tế Thế giới đã điều tra và phát hiện, mỗi gia đình ở Ai Cập đều có một hũ rượu ngâm tỏi và đây có thể là lời giải thích cho hiện tượng trên.

Y học cổ truyền nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã dùng tỏi vào điều trị nhiều loại bệnh có kết quả tốt. Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ôn, hơi độc, vào hai kinh can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, trừ phong, thông khiếu, tiêu nhọt, tiêu đờm…

Rượu tỏi có thể chữa được 4 nhóm bệnh: xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp), hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản), tim mạch (huyết áp cao, huyết áp thấp, xơ mỡ động mạch), tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày – tá tràng).

Năm 1983, các nhà nghiên cứu Nhật Bản lại thông báo bổ sung thêm 2 nhóm bệnh nữa là bệnh trĩ và tiểu đường. Họ nhận xét đây là loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao, không gây phản ứng phụ.

Cách bào chế Rượu tỏi : Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40 g đem thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100 ml rượu trắng 40-45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được. Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương một thìa cà phê) trước khi ăn; tối uống 40 giọt trước khi ngủ.

Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp, để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng. Uống liên tục suốt đời với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.

Tỏi có khả năng giúp cơ thể phòng ngừa được ung thư, đó là điều nhiều nhà khoa học đã thừa nhận; song có điều trị được ung thư khi nó đã phát triển thành khối u hay không thì chưa chứng minh được, còn cần nghiên cứu tiếp.

Tỏi có nhiều hữu ích, đó là điều rõ ràng. Tuy nhiên đã là thuốc thì phải tính đến liều lượng thích hợp (thuốc dùng liều quá cao cũng có hại) và các phản ứng phụ, không nên lạm dụng. Dùng tỏi quá nhiều có thể gây hơi thở hôi, rối loạn dạ dày – ruột, ức chế tuyến giáp…

Bởi vậy, chỉ nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu và phổ biến. Với liều lượng ấy là có tác dụng phòng và chữa được nhiều bệnh, với cách dùng an toàn có thể dùng hằng ngày một cách lâu dài.

Theo BS Vũ Định

Hầu hết người học giỏi đều đi làm thuê cho người học dốt: Chuyên môn không phải là Vua, chính thái độ và mối quan hệ mới là thứ quyết định giàu – nghèo!

Kiến thức trong trường học không làm nên thành công cho người học giỏi. Nhưng kiến thức ngoài xã hội lại là bí quyết thành công của người học dốt.

Hóa ra người học giỏi phải làm thuê cho người học dốt vì 4 lý do này

Đây không phải chuyện đùa. Nếu chịu quan sát, bạn sẽ thấy không thiếu trường hợp người học giỏi là người làm thuê, trong khi người học dốt hoặc bỏ học lại là chủ thuê.

Tại sao lại như vậy? Tại sao người học giỏi lại thường làm thuê cho người học dốt, cái đám mà bạn coi thường và nhìn bằng nửa con mắt khi còn ngồi trên ghế nhà trường?

Ra ngoài xã hội, mấu chốt không nằm ở bằng cấp, danh hiệu, mà nó nằm ở ý chí, năng lực và nhiều nhân tố khác nhau mà bài viết sau đây sẽ chỉ rõ cho bạn hiểu.

1) Người học dốt không sợ nhục
Người học giỏi nhận được điểm 7 là thấy xấu hổ với bản thân, rồi thì xấu hổ trước bạn bè và thầy cô. Còn người học dốt nhận điểm thấp quen rồi thì có gì mà xấu hổ?

“Mặt dày” không hề xấu, nhất là với những người kinh doanh và muốn thành công. Khi bạn muốn thành công ở bất kỳ lĩnh vực nào, không thấy xấu hổ, không thấy tự ti mà vẫn tiếp tục cố gắng mới lâu bền và nhận được kết quả.

Đối với những người học giỏi, tổn thương, chỉ trích làm họ mất ý chí, tự tin dần phai tàn. Một khi mất ý chí, thành công sẽ không bao giờ được đặt nền tảng và xây dựng được.

Còn những người học dốt đã quen với việc bị chê dốt, dở… nên họ sẽ sẵn sàng theo chân khách hàng nếu bị chê bai, luôn nỗ lực thuyết phục đối tác dù bị cho là mặt dày, không sợ nhục. Vì thế, họ có được nhiều thành công hơn khi kinh doanh, xây dựng sự nghiệp.

2) Người học dốt không sợ thất bại vì đã tắm trong thất bại từ nhỏ
Với một người ít thất bại, nhìn thấy thất bại là họ sợ hãi, chỉ muốn tránh mặt. Còn với một người bị coi là thất bại từ bé, vì đã quá quen với cảm giác đó. Thế nên, họ chẳng ngại thử những điều mới, cơ hội mới, những thứ trả lại cho họ sự thành công.

“Thuận buồm xuôi gió” là từ luôn có trong từ điển của học sinh giỏi. Thế nên chỉ gặp chút bất trắc thôi, thuyền của họ sẽ lung lay, khó đứng vững được.

Trong khi người học dốt thì “vào đời” trước. Khi người học giỏi bận học, người học dốt đi chơi, quan hệ với các anh lớn, học hỏi nhiều kỹ năng xã hội. Họ có một khoảng thời gian dài dung nạp và trải nghiệm những thứ này sớm hơn. Mà có lẽ bạn cũng thừa hiểu, trong làm ăn kinh doanh, chuyên môn không phải là vua. Chính Thái độ và mối quan hệ ngày nay mới là thứ giúp bạn đem về nhiều đơn hàng.

3) Học sinh dốt khát khao được chứng tỏ
Suy nghĩ của học sinh giỏi và học sinh dốt sẽ có điều gì đó tương tự như sau:

Học sinh giỏi: “Học dốt như mày thì sau này làm được gì cho xã hội.”

Học sinh dốt: “Một lũ đầu to mắt cận, lúc nào cũng chỉ biết học, học, học. Chúng nó chả biết gì ngoài học!”

Tất nhiên, khao khát chứng tỏ là điều mà ai cũng muốn. Nhưng với một người bị thầy cô, bạn bè, thậm chí bố mẹ ĐÁNH GIÁ THẤP thì cái khao khát chứng tỏ bản thân sẽ mãnh liệt hơn.

“Tôi muốn chứng minh cho mọi người thấy là mình có thể hát.” – một cô người mẫu nói.

“Tôi muốn chứng minh cho mọi người thấy là mình không vô dụng.” – một người bị đánh giá thất bại cho hay.

“Tôi muốn chứng minh cho mọi người thấy những điều họ nói CHẲNG CÓ Ý NGHĨA GÌ VỚI TÔI CẢ.” – một người suốt ngày bị chỉ trích tiết lộ.

Trong cuộc sống, tất cả những người bị đánh giá thấp đều có khao khát mãnh liệt được chứng tỏ. Họ muốn làm những kẻ từng chê bai bẽ mặt, những người từng coi thường phải tôn kính. Họ muốn cho cả thế giới này biết mình là một thứ tài nguyên vô giá, không phải rác rưởi lề đường.

4) Học sinh dốt biết việc học không dừng lại sau khi tốt nghiệp
Học sinh dốt học nhiều từ “trường đời”, họ biết thứ kiến thức đó không bao giờ là đủ, ngay cả khi ai đó tốt nghiệp cao đẳng, đại học, thạc sĩ.

Còn học sinh giỏi cứ nghĩ mình đã tốt nghiệp đại học, thạc sĩ rồi. Đã thuộc hạng Elite của xã hội rồi, thế nên chẳng phải học.

Thực tế thì người học giỏi chỉ muốn học từ giáo sư, tiến sĩ, người có bằng cấp cao hơn mình. Chứ họ rất lười học từ những người trình độ kém hơn, hay cho rằng học dốt hơn mình.

Thế nhưng, để thành công được thì kiến thức có thể ở bất kỳ đâu. Một người bán vé số có thể dạy bạn về cách bán hàng, một người ăn xin có thể dạy bạn về cách thuyết phục, một người gánh hàng rong có thể dạy bạn về sự linh hoạt trong cuộc sống. Người học dốt hiểu điều đó, vì thế họ tận dụng cơ hội mở mang đầu óc mọi lúc, mọi nơi.

Kiến thức trong trường học không làm nên thành công cho người học giỏi. Nhưng kiến thức ngoài xã hội lại là bí quyết thành công của người học dốt.

Thái độ sống mới là thứ quyết định tất cả chứ không phải bằng cấp của bạn.

Thái độ sống, cách hành xử sẽ quyết định một người có thành công hay không? Thành tích học tập, bằng cấp và kiến thức là cần thiết. Thế nhưng, khi bạn có đầy đủ những thứ trên mà vẫn không biết phát huy thì bạn cũng chỉ là người giỏi lý thuyết, giáo sư bàn giấy. Không thực tiễn!

Nếu đã là người học giỏi, hãy mang tinh thần và thái độ của một kẻ học dốt để học hỏi và thành công. Còn nếu là một học sinh dốt, hãy giữ thái độ tự tin, tích cực và tinh thần chiến đấu để thành công.

Tuy nhiên, phải khẳng định lại, bài viết không cổ xúy cho việc “Hãy cứ học dốt đi rồi thành công sẽ đến”. Con người hơn nhau ở ý chí, sự phấn đấu. Chứ không phải ở cái danh hiệu “học giỏi” hay “học dốt” mà thầy cô giáo ban tặng.

(Chinhem, Lai H.)

XÔN XAO VỀ KHÁM PHÁ MỚI NHẤT CỦA KHOA HỌC

Một tác giả mang tên An Khang đã viết trên báo điện tử VN VNexpress ngày 26/11/2018 một loan tin có tựa đề:

Bằng chứng loài người có nguồn gốc từ một cặp bố mẹ

https://vnexpress.net/tin-tuc/…

Vài thân hữu đã xôn xao báo tin cho tôi, và cho biết giáo dân Kytô ăn mừng về tin này. Tôi vào xem bài viết, và thấy nó quá đơn giản, chỉ là một trích dịch ngắn gọn hơn là một nghiên cứu.

Tôi lướt qua một số bài viết Anh và Pháp ngữ liên quan đến tiêu đề này, chỉ có một hai bài cũng “nhảy cỡn” lên mà reo hò rằng kinh thánh đã chính xác, rằng ông Adam và bà Eva đúng là thủy tổ của loài người. Hầu hết các bài báo còn lại đều tỏ ra dè dặt vì đây chỉ là một nghiên cứu chưa hoàn chỉnh của hai nhà di truyền học Mark Stoeckle của đại học Rockefeller ở New York và David Thaler của đại học Basel ở Thụy Sĩ.

Kiến thức của tôi về di truyền học được đánh giá ở điểm âm, nên tôi không lưu ý cho lắm các đề tài liên quan đến lãnh vực này.

Tuy nhiên, có một điều đáng lưu ý, là cứ mỗi lần có một khám phá khoa học, thì tất cả mọi tôn giáo đều thản nhiên với những sinh hoạt bình thường, duy chỉ có Kitô giáo luôn phải hồi hộp đứng ngồi không yên chờ kết quả của các tuyên bố khoa học. Chẳng hạn khi thuyết tiến hóa ra đời, thuyết bigbang được khám phá, thuyết thế giới được cấu tạo từ không có gì hết, hoặc khi con cừu Dolly được ra đời bằng phép clone vào năm 1996…

Tờ báo mà Kitô giáo vin vào để “mừng húm” là tờ Fox News. Ai cũng biết đây là tờ báo của đảng Cộng Hòa 100% Kitô và luôn sinh hoạt theo triết lý Christocentric (tất cả đều từ Chúa và cho Chúa).

Báo Forbes, một tờ báo khá đứng đắn, thường viết về các đề tài khoa học một cách thận trọng, được tác giả Michael Marshall, sau khi nghiên cứu tuyên bố của hai nhà di truyền học trên, đã viết như sau:

Thaler was quoted by Fox News saying that “all of animal life experiences pulses of growth and stasis or near extinction on similar time scales”. He listed possible explanations: “ice ages and other forms of environmental change, infections, predation, competition from other species and for limited resources, and interactions among these forces”.

https://www.forbes.com/sites/…

Thaler được Fox News trích dẫn rằng “đời sống của mọi sinh vật đều trải nghiệm theo nhịp gia tăng và ổn định hoặc đi đến tuyệt chủng trên quy mô cùng một thời gian”. Ông đã liệt kê các lý do có thể có: “thời kỳ băng giá và các hình thức biến đổi môi sinh, sự nhiễm trùng, sự ăn thịt lẫn nhau, cạnh tranh giữa các loài khác nhau và do nguồn thức ăn hạn chế, và tương tác giữa các nhóm này“.

This event, whatever it was, also affected humans. The human genetic data, according to the study, is “consistent with the extreme bottleneck of a founding pair”.

The idea of humans being reduced to a population of two, who then had to repopulate the planet, has understandably drawn peoples attention. But this idea is almost certainly wrong, for a host of reasons.

Dịch:

“Sự kiện này, bất kể nó là gì, cũng ảnh hưởng đến con người. Dữ liệu di truyền của con người, theo nghiên cứu, là “phù hợp với sự quy về một mối của một cặp đầu tiên”.

Ý tưởng về con người bị giảm xuống dân số hai người, sau đó họ lấp đầy lại hành tinh, đã thu hút sự chú ý của mọi người một cách dễ hiểu. Nhưng ý tưởng này gần như chắc chắn sai, vì một loạt các lý do.”

Hết dịch.

Sau đó Michael Marshall đưa ra một vài lý do mang tính chuyên môn trong di truyền học mà cho dù tôi có dịch ra đây, thì tôi cũng chẳng hiểu bao nhiêu, mà độc giả của tôi ở đây, cũng chưa chắc hiểu được điều gì, nên ai muốn đọc vào nguyên ngữ thì cứ vào link bên dưới mà đọc.

Còn ở đây tôi chỉ trích một đoạn văn quan trọng mà tôi nghĩ, nó sẽ phá tan bầu không khí “nhảy cỡn” lên của những ai chưa dò kỹ vé số mà đã đốt nhà, như sau:

What about our own species? First, Stoeckle and Thaler only ever said that their data was “consistent” with the existence of a founding pair. That doesn mean much, and they immediately conceded that the same pattern could have arisen “within a founding population of thousands that was stable for tens of thousands of years”. The fact is, genomic data doesn do a great job of revealing the sizes of past populations except in broad-brush terms. The human population was probably pretty small for a long time, but there is no reason to think it was two.

Dịch:

“Còn về mẫu loại của chúng ta thì sao? Đầu tiên, Stoeckle và Thaler chỉ đã nói rằng dữ liệu của họ “nhất quán” với sự xuất hiện của một cặp đầu tiên. Điều đó không có nghĩa gì nhiều, và họ ngay lập tức thừa nhận rằng cùng một mẫu mã có thể đã phát sinh “trong một dân số hàng ngàn người được khám phá đã ổn định trong hàng chục ngàn năm”. Thực tế là các dữ liệu di truyền học không thể tiết lộ về kích thước dân số quá khứ ngoại trừ đưa ra vài khái niệm tổng quát cho mỗi thời kỳ. Dân số của con người có lẽ là khá nhỏ trong một thời gian dài, nhưng không có lý do gì để nghĩ rằng đó là hai.”

Hết dịch.

Nếu đã không là hai, thì Fox News đã cho đốt pháo bông quá sớm.

Ngoài ra, nếu Fox News nhứt quyết cho rằng hai nhà khoa học này khẳng định loài người được sinh ra từ một cặp duy nhất và đầu tiên, đúng như trong sách Sáng Thế (Genèse) nói, vậy xin hỏi các ông khoa học của Fox News một điều: Trong kinh thánh, khi Chúa tạo ra Adam và Eva, chỉ cách chúng ta có hơn 6000 năm, còn khám phá của hai nhà di truyền học lại tuyên bố rằng chúng ta đưọc sinh ra vào khoản 200.000 năm trước đây, vậy sai suất cách đến 194.000 năm phải trả lời ra sao ?

Một cặp người đẻ ra loài người khoản 6000 năm trước không thể là cặp đẻ ra loài người trước đó 200.000 năm, khoản cách quá chênh lệch trong di truyền học và cả trong địa chất học. 

__________

NHẬN XÉT:

Tuấn Minh Trần Chuẩn
Thanh Nguyễn http://www.pontecorboli.com/…/he12…/1_Stockle_Thaler.pdf
đơn giản hơn thì đây là bài báo cáo của hai nhà khoa học và trong đó chả có câu nào khẳng định con người sinh ra từ MỘT cặp cha mẹ cả, mà trong đó chỉ ghi rằng có khả năng con người và rất nhiều loại hiện nay xuất phát từ 1 quần thể nhỏ. nhét chữ vào mồm là nghề của đạo X mà

Nguyen Khoe Đây là nghiên cứu về gene di truyền, DNA ( chất hữu cơ), trong khi Adam được làm từ đất sét (vô cơ) đủ cho thấy dù Adam,Eva có do chúa tạo ra, thì chúng vẫn là đất sét!
Tcg cố tìm mọi cách để bảo rằng có một ông chúa toàn năng sinh ra loài người,nhưng thất bại thôi, nếu chúng bảo rằng chúa có vợ, giao hợp với vợ rồi sinh ra những đứa con đầu tiên, thì cũng tạm gọi là có cơ sở.
Vả lại thông tin trên là rất đáng nghi ngờ, nó giống nhiều chiêu trò tcg,như jesus chảy máu đầu, maria ứa lệ…

Mạnh Tuấn Chúa tạo ra Adam và Eva, vào 6000 năm trước phải không bạn

Nguyen Khoe Đúng rồi, còn đây là 200000 năm, mà do một cặp khỉ nào đó tạo ra,tiến hóa dần thành người. Nếu phát hiện này là đúng, thì nó cũng phủ nhận thượng đế

Mạnh Tuấn Nguyen Khoe Chúa tạo ra adam eva vào 6000 năm mà trong khi người ai cập cổ đã có từ 10,000 năm trước rồi hài nhỉ,vậy adam và eva đâu phải là tổ tiên của loài người chúng ta

Nguyen Khoe Hì, kinh tháng là loại sách tào lao nhất, nhiều nước cấm phổ biến. VN không cấm, mà nó cũng chẳng dám cho chiên đọc, vì sợ chiên bỏ đạo

Mạnh Tuấn Nguyen Khoe chúa không cho adam và eva ăn trái cấm,vì trái cấm,thứ trái cây có thể đem lại trí tuệ,

Anh-Tuan LE Chúng ta chấp luôn chúa sinh vô cơ, cứ tạm coi như ko thèm để ý đến chi tiết đó.

Hoàng Thu Thank a zai, bài viết đúng vấn đề ace đang băn khoăn, e xp share nhé a

Anh-Tuan LE Trong bài viết của báo Forbes có đưa link toàn bài nghiên cứu của hai nhà di truyền học dưới dạng PDF, chính vì vậy mà tôi không cần nhấn mạnh thêm.

Tran Thi Huong Bài phản biện rất thuyết phục. Tác giả nên gởi đăng các báo để phổ biến cho mọi tầng lớp dân chúng.

Lâm Phú Châu Phần cuối bài:
Chuyện khám phá “một cặp đầu tiên” này (không đúng với tuyên bố thực) chẳng những:
1 – việc khám phá này trước việc Chúa tạo dựng loài người cả hơn 194 ngàn năm,
mà còn khác ở chỗ:
2- Chúa chỉ tạo được 1 cục đất sét đầu tiên, chứ không phải 2 cục một lượt nhé.
3- Việc nghiên cứu về “dữ liệu di truyền của con người” (tức thuộc về hữu cơ) chứ không phải là (đất sét) vô cơ.
Trật lấc như thế mà cũng ăn mừng. Đúng là loài chiên.

Ảnh Bible Answering Questions https://ganastephen.wordpress.com/

Nhân việc báo chí mới đây (December 5, 2018) đăng vụ bán đấu giá bức thư nói về God của Albert Einstein, một thiên tài vật lý, một vĩ nhân của nhân loại, đã phá vỡ kỷ lục bán đấu giá, thu gần 2,9 triệu USD, chúng tôi cho đăng lại bài viết về bức thư này của GS Trần Chung Ngọc, viết từ 17 tháng 10, năm 2012 để cống hiến bạn đọc (SH)

Thông tin điện tử và báo chí loan báo rộng rãi là một bức thư của khoa học gia Albert Einstein viết từ năm 1954, được mang ra bán đấu giá trên eBay với giá đầu tiên là 3 triệu đô-la, và hi vọng giá mua chính thức có thể lên gấp đôi.  Bức thư đó có gì đặc biệt mà báo chí điện tử cũng như báo giấy phải đăng lên như một tin quan trọng.  Tôi đã đọc bức thư đó và thấy nội dung chẳng có gì đặc biệt, toàn những điều mà giới trí thức và khoa học gia đã biết từ lâu, ít ra là từ 200 năm nay.

Thật vậy, trong thư Einstein viết:

Albert EinsteinTừ “Gót” đối với tôi không gì khác hơn là sự biểu thị và là sản phẩm của những sự yếu kém của con người, cuốn Kinh Thánh là một tập hợp hầu hết là những truyền thuyết thời sơ khai, có một giá trị nào đó, tuy nhiên chỉ hợp với trẻ con.  Không có một sự diễn giải nào dù tinh tế đến đâu có thể thay đổi được điều này.  Những sự diễn giải tinh chế này tự bản chất của chúng đã khác nhau nhiều và hầu như chẳng liên quan gì đến văn bản gốc của cuốn Kinh Thánh.  Đối với tôi, đạo Do Thái, giống như mọi đạo khác, chỉ là một hóa thân của những sự mê tín của thời sơ khai. Và dân tộc Do Thái mà tôi hoan hỉ thuộc dân tộc này.. không có phẩm chất gì khác so với các dân tộc khác.  Kinh nghiệm của tôi là, họ không có gì tốt hơn những nhóm nhân loại khác, tuy rằng họ được bảo vệ khỏi những ung thư tệ hại nhất vì không đủ quyền lực.  Ngoài ra tôi không thấy bất kỳ điểm nào về người Do Thái để có thể cho rằng dân tộc Do Thái là dân tộc được Gót chọn. .

(The word God is for me nothing more than the expression and product of human weaknesses, the Bible a collection of worthy, but largely primitive legends which are nevertheless pretty childish.. No interpretation however subtle can (for me) change that.  These refined interpretations are by their nature very varied and have almost nothing to do with the original text. For me the pure Jewish religion is, like all other religions, an incarnation of primitive superstitions.  And the Jewish people to whom I gladly belong … have no different quality for me than all other people. As far as my experience goes, they are also no better than other human groups, although they are protected from the worst cancers by a lack of power. Otherwise I cannot see anything “chosen” about them.)

Những điều Einstein viết ở trên đâu có gì đặc biệt vì đó là những điều mà thiên hạ đã biết từ lâu, trừ đám con chiên mù mờ, sống trong những ngục tù tâm linh.  So với những nhận định về Gót, về Giê-su ngày nay thì những điều Einstein viết ở trên chỉ là những điều thông thường đã được biết nhiều trong thế giới văn minh hiện đại.  Còn những chi tiết động trời hơn về Gót, về Giê-su mà ít người biết đến, vì không muốn biết đến, hoặc không đủ khả năng để mà biết đến.

Thật vậy, nếu chúng ta đọc Richard Dawkins trong cuốn “Ảo Tưởng Về Gót” (The God Delusion), ấn bản 2008, thì chúng ta có thể thấy tác giả nhận định về Gót như thế nào, không chỉ là sản phẩm của những sự yếu kém của con người, không chỉ là những sự mê tín của thời sơ khai, mà còn là một nhân vật đạo đức thấp kém và tàn bạo nhất thế gian, do đó không ai còn có thể tin được những luận điệu thần học lừa dối tín đồ như Gót toàn năng, nhân từ, quá thương yêu thế gian v…v… Thực chất của Gót trong Cựu Ước là như thế nào?  Richard Dawkins viết:

Không cần phải bàn cãi gì nữa, Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường.

[The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.]

CJ Werleman cũng viết trong cuốn “Gót thù ghét các người.  Hãy thù ghét lại ông ta” (God hated you.  Hate him back):

Mục đích của tôi là mang Gót trở lại cho quần chúng, nhắc nhở cho họ biết thực sự Gót là cái gì.  Gót, như thể hiện trong chính cuốn Kinh Thánh của ông ta, là một tên ưa trả thù, đồng bóng, giết con nít, diệt chủng, tàn nhẫn, diệt dân tộc khác, ghét phái nữ, kẻ hiếp đáp ở trên trời.

(My aim was to bring God back to the people, reminding them of who God really is.  God, as depicted in his own Bible, is a vindictive, capricious, baby killing, genocidal, merciless, ethnic-cleansing, misogynistic, sky-bully)

Ngoài ra, CJ Werleman cũng còn chứng minh là Giê-su toàn là nói láo trong cuốn “Giê-su Nói Láo:  Ông Ta Chỉ Là Người Thường.  Vạch Trần Tân Ước” (Jesus Lied:  He Was Only Human.  Debunking the New Testament).  Tác giả viết:

Qua từng mạch văn một,  chúng tôi sẽ phá hủy nền tảng cơ cấu tạo thành huyền thoại về Giê-su, như là một siêu sao (trong tôn giáo).  Điều này sẽ để lại cho quý vị ba kết luận chung cùng là: 1. Giê-su nói láo; 2. Những người viết tiểu sử Giê-su nói láo; 3. Ki Tô Giáo thực ra được đặt trên nền tảng những chuyện tào lao mà những người có khả năng đặt ra” (Thread by thread, we will destroy the fabric that is the myth of Jesus Christ, Superstar.  This will leave you with three ultimate conclusions, that 1.  Jesus lied; 2 Jesus’ biographers lied; 3.  Christianity is actually founded on talected horse-crappery).

 
Điều Giê-su nói láo thứ nhất là hứa hẹn sẽ trở lại trần ngay khi một số người theo ông ta vẫn còn sống, nhưng nay đã 2000 năm rồi mà đâu có ai thấy ông ta ở đâu. Điều nói láo vĩ đại thứ hai của Giê-su là:  “Nếu có đức tin chỉ bằng hạt cải thì có bảo núi này rời đi thì núi sẽ tự động bò xuống biển”.  Điều nói láo thứ ba của Giê-su là dạy tín đồ: “Cầu gì thì sẽ được nấy”. Và còn nhiều nữa.  Quý vị có thể mua 2 cuốn e-book của Werleman ở Amazon.com.

Dù rằng những điều trên trong bức thư thiên hạ đã biết từ lâu, nhưng bức thư trở thành rất đặc biệt vì đó là của Einstein, một người Do Thái.  Là người Do Thái nhưng Einstein không cho rằng dân tộc Do Thái có gì vượt trội hơn các dân tộc khác về đạo đức, và cũng không có lý do gì để tin đó là dân được Gót chọn.  Chúng ta nên để ý là Einstein đã nhận xét rất đúng khi nói rằng, dân tộc Do Thái không bị những ung thư tệ hại nhất vì không đủ quyền lực.  Einstein ý nói ung thư là những sự dã man tàn bạo của Do Thái trong Cựu Ước, nghe lời Gót đi tận diệt các dân tộc không phải là Do Thái.  Ngày nay, dân tộc Do Thái chỉ có trên dưới 20 triệu và không đủ sức để làm theo ý Gót trước những cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Quốc v…v…, chỉ còn có thể tàn bạo đối với dân Palestine mà thôi.

Einstein cũng cho rằng Gót hiện thân thành người chỉ là truyền thuyết cho trẻ con nghe, sự mê tín của thời sơ khai.  Nhưng đặc biệt hơn cả là, Einstein là một thiên tài vật lý của thế kỷ 20, cha đẻ của thuyết Tương Đối, nền tảng lý thuyết của Big Bang, người có đầu óc xuất chúng, được giới khoa học trên thế giới ngưỡng mộ…trừ con chiên Mít.  Và chúng ta đã biết, thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, và thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc con người, cùng với nhau đã phá sập thuyết Sáng Tạo trong nền thần học Ki Tô Giáo, và trên thế giới ngày nay, không còn chỗ đâu cho Gót hay con Gót dự phần vào những quy luật thiên nhiên.

Một con người đặc biệt với một đầu óc sáng suốt như Einstein nên quan điểm về Gót, về dân tộc Do Thái của ông ta đã nói lên những sự thật đau lòng cho Ki Tô Giáo và Do Thái giáo, đã xóa bỏ những lời tuyên truyền láo của Ki Tô Giáo trước đây, diễn giải lệch lạc vài câu Einstein nói đến Gót, và cho rằng Einstein tin ở Gót để quảng cáo Ki Tô Giáo.  Chúng ta hãy đọc nhận định của Richard Dawkins trên richarddawkins.net:

Richard DawkinsKhông thể hoàn toàn trách những người biện giải cho Ki Tô Giáo khi họ tuyên bố rằng Einstein là một tín đồ Ki Tô.  Einstein thường hay nhắc đến từ Gót như là một ẩn dụ thi vị.. ông ta không ngờ là ngày nay người ta trích dẫn ông một cách bất lương đến mức độ nào.  Cho nên thật là thú vị khi thấy bức thư này, viết ít lâu trước khi qua đời, sẽ chôn vùi vĩnh viễn huyền thoại Einstein tin ở Gót.  Cùng với nhiều nguồn tài liệu khác, cuối cùng thì bức thư này đã khẳng định Einstein là, theo nghĩa thực tế của từ ngữ, một người “vô thần”.

Khi bức thư được đưa ra bán đấu giá ở Luân Đôn năm 2008, tôi không thành công mua nó để làm một quà tặng cho Tổ Chức Richard Dawkins.  Tôi chỉ có thể ra một giá nhỏ so với giá bán sau cùng [khi đó là $404.000.00. TCN], và thấp hơn nhiều so với giá đặt tối thiểu nay là 3 triệu đồng.  Tôi hi vọng người nào mua được trong cuộc đấu giá này sẽ trưng bày nó thật nổi, cùng với bản dịch sang tiếng Anh và các tiếng khác..

Albert Einstein’s Historic 1954 “God Letter”

by Richard Dawkins posted on September 17, 2012 02:34PM GMT

Religious apologists cannot entirely be blamed for claiming Albert Einstein as one of their own. He was fond of quoting “God” as a poetic metaphor, he couldn’t have anticipated the extent of today’s dishonest quote-mining. So it is good to see this letter, written shortly before his death, which should lay to rest, once and for all, the eager myth that Einstein believed in God. Along with various other sources, this letter finally confirms that Einstein was, in every realistic sense of the word, an atheist. When the letter came up for auction in London, in 2008, I made a futile attempt to buy it as a gift for the Richard Dawkins Foundation. I could offer only a small fraction of the eventual price, and even that was far less than the $3M now being asked as a minimum. I hope that whoever wins this auction will display it prominently, complete with translations into English and other languages.

Để đọc cho vui và không phê bình, chúng ta hãy đọc vài ý kiến của con chiên Mít:

Einstein không tin Chúa và ông đã chết xương cốt rả rời lâu rồi thành tro bụi ngày hôm nay, nhưng Chúa vẫn đang sống ( Jesus is the Living God) . Nhà thờ và Chúa vẫn còn tồn tại trên 2000 năm nay và đang sống mạnh mẽ cùng hết nước Mỹ là nước được Chúa thương yêu ban phước nhiều nhất. Đế quốc La Mã đã từng muốn tiêu diệt đạo Chúa nhưng họ đã bị tiêu diệt và Chúa vẫn sống. Tại Mỹ, hàng ngày người ta vẫn còn in Thánh Kinh cho cùng thế giới và mãi mãi sẽ tiếp tục in TK là quyễn sách có nhiều độc giả nhất trong trên 17 thế kỹ qua. Quã thực, Chúa quá linh thiêng cho những ai tin Chúa, không thể nào chối cải được quyền lực và sự linh thiêng khủng khiếp của Chúa. Bây giờ có thể linh hồn của Einstein đang đứng ngoài song cửa lạnh lẻo (nếu không nói là đang ở địa ngục nóng cháy ) chờ đợi mỏi mòn Chúa ra tay rước mình vào bên trong Thiên đường của Chúa.

► Con người có giỏi đến mức như Einstien (sic) mà không tự đặt câu hỏi “mục đích của đời sống là gì? và tại sao chúng ta tồn tại” thì quả cũng là một loài ngu xuẩn nhất.

Thêm một quan điểm ngược dòng con chiên:

Tôi nghĩ chính phủ VN nên mua lá thư này và trưng bày nó ngay trong đại sảnh của khu công nghệ Hoà Lạc đang được xây dựng vì nó mang đậm sắc thái của khoa học, và xã hội phù hợp với tinh thần hướng tới văn minh của dân tộc VN, cũng như của nhân loại trên khắp thế giới .

Và vài quan điểm của độc giả Mỹ:

► … Thanks for this, an important document of which copies should be sent to faith-heads in general and the “last-minute-conversionists” in particular.

►… Isn’t the petty, unjust, unforgiving control-freak, vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser, misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully (thanks to Shroedinger’s Cat, for the reminder) of the OT and the milksop zombie of the NT one and the same supposed god?


Bản dịch sang tiếng Anh từ nguyên bản bức thư bằng tiếng Đức:

Spurred on by Brower’s repeated suggestions I have read a lot of your book in recent days; thanks very much for sending it. What especially struck me about it was this. With regard to the factual views on  life and human society we are very similar Your personal ideal with the struggle for freedom from self-centred wishes, struggle for the brightening up and ennoblement of existence with emphasis on the purely human, whereby the lifeless thing can only be regarded as a means which may be granted no dominant function. (It is this view in particular, which connects us as a real “un-American attitude”.)

All the same, without Brower’s encouragement I would never have got round to giving your book any  detailed attention, because it is, for me, written in very inaccessible language. The word God is for me nothing more than the expression and product of human weaknesses, the Bible a collection of worthy, but largely primitive legends which are nevertheless pretty childish… No interpretation however subtle can (for me) change that.

These refined interpretations are by their nature very varied and have almost nothing to do with the original text. For me the pure Jewish religion is, like all other religions, an incarnation of primitive superstitions. And the Jewish nation to whom I gladly belong and in  whose mentality  I am steeped have no different dignity for me than any other nations. As far as my experience goes, it is also no whit better than other human groups, although it is protected from the worst excesses by lack of power. Apart from that I can see nothing ‘chosen’ about it.

I find it particularly painful that you claim a privileged position and try to defend it by two walls of pride, an external one as a human being and an internal one as a Jew. As a human you claim, as it were, a dispensation from otherwise accepted causality, as a Jew the privilege of monotheism. But a limited causality is no longer a causality, as our wonderful Spinoza, perhaps first, so astutely recognized. And the animistic view of the natural religions is in principle not revoked by monopolization. With such walls we can only attain a certain self-deception, but our moral efforts are not challenged by them. Rather the reverse.

Now that I have quite openly articulated our differences in intellectual convictions it is clear to me that we are quite close in essential things, like our evaluations of human behaviour. What separates us is only intellectual detail or ‘rationalisation’ in Freudian language. Therefore I think that we would understand each other quite well if we talk about concrete things.

With friendly thanks and best wishes,.

A. Einstein

 

Phóng ảnh bản gốc:

Trần Chung Ngọc

Chính phủ Diệm đã “yêu cầu Mỹ đổ quân sớm” chứ không phải “Diệm không cho Mỹ đổ quân sang Việt Nam”

Trần Quang Diệu

01-Oct-2019

…Tài liệu mật của Ngũ giác đài dưới đây tiết lộ một bản mật điện của Toà đại sứ Mỹ tại Sài gòn gởi về Washington trình bày về cuộc thương thảo giữa Đại sứ Nolting và ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Bộ trưởng Phủ Tổng thống, (TQD)

From: Tran Quang Dieu
Sent: Tue, October 01, 2019 4:35 am
Subject: Re: Mỹ không chữa nổi chứng bệnh tham nhũng của

Ba ông này đang làm gì đây?

Phó TT Hoa kỳ L.B.Johnson, Ngô Đình Diệm và đại sứ Nolting. Ảnh http://vi.wikipedia.org/wiki/

Ồ! té ra nếu không do nhờ “con chiên ngoan đạo” Phạm Ngọc Thảo thì ông Ngô Đình Diệm đã được “Chúa đón” lên Thiên đàng từ năm 1956 chứ đâu “trễ” tới năm 1963, bởi lẽ: “Cấp trên” của ông Cao Đài Hà Minh Trí không cho ông ta sử dụng lựu đạn vì sợ “con chiên ngoan đạo” Phạm Ngọc Thảo sẽ bị chết lây (Phạm Ngọc Thảo là một trong những người kè kè bên ông Diệm tại hội chợ Buôn Mê Thuột):

https://www.youtube.com/watch?v=igAX0Ej5Rrw!?

Diệm là thầy tu Cato Roma. Thành ra, phải chăng tất cả những điệp viên thượng thặng của Bắc Việt trong thời chiến, nếu muốn tiếp cận ông Diệm thì phải “bọc hậu” qua ngả nhà thờ thì người ta mới có thể làm được việc “đá giò lái” thành công (?).

Còn chuyện Mỹ có đổ quân sang Việt Nam hay không (chưa nói đến những sư đoàn của Nam Hàn, Thái Lan, Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân,…) thì năm 1975 người Mỹ vẫn đã phải cuốn cờ rời khỏi Việt Nam.

Đoạn, cho dẫu là lính khố xanh khố đỏ gì gì do Pháp đào tạo hay được Mỹ dựng lên thì cũng phải “dzọt” ra khỏi biên thùy xứ mẹ trong, và trước ngày 30.4.1975. Số nào kẹt lại thì phải có đủ 3 năm mới HO sang Hoa Kỳ được, nếu không phải làm “người Tàu – “Thuyền nhân”?

Thế, con chiên Phạm Trung Kiên bây giờ còn ngoác mồm ra lải nhải điều gì chứ hả?

Mỹ bồng Diệm về Việt Nam sau thời gian Diệm lưu vong. Nhưng rồi Diệm muốn tháu kháy Mỹ thì Mỹ “dứt điểm” (…).

Mỹ là ghê gớm vậy đó. Vì như khởi thủy:

Mỹ Tạo Ra Ngô Đình Diệm Trong Tiến Trình Thay Thế Pháp – Phục Hồi Quyền Lực Vatican ở Việt Nam:

 

Nhưng, duy chỉ đến năm 1975 thì thế giới mới thấy rõ phong độ dân tộc Việt Nam là như thế nào.

Chứ nếu chỉ toàn là nguyên thủ bù nhìn như Quốc trưởng “Người Việt Quốc Gia” Bảo Đại “là quân ăn hại” hay Diệm tam đại Việt gian (…) thì Việt Nam chỉ triền miên mang số kiếp “ăn mày” trước nhãn quan quốc tế.

Đúng không vậy hả con chiên Phạm Trung Kiên?

Mấy chiên tương tự như chiên Phạm Trung Kiên cứ làm chuyện nói phét hoài chứ Hoa Kỳ đổ sang Việt Nam có đến trên nửa triệu quân tại chỗ mà không chịu nổi công cuộc “trường kỳ kháng chiến” bởi đội quân đã từng buộc quân viễn chinh xâm lăng Pháp phải giơ tay đầu hàng vô điều kiện thì, nếu chỉ có đám gia nô Ngô Đình Diệm thì làm sao mà “chống cộng” thành công?

Điều mà lịch sử không thể không biết đến, rằng, chính phủ Ngô Đình Diệm đã có yêu cầu Mỹ đổ quân qua cho sớm chứ không phải “Diệm không cho Mỹ đổ quân sang Việt Nam” gì cả:

Nào, nhắc chút dưới triều Ngô Đình Diệm
Về Việt Nam bằng người Mỹ ra công
Tiến cử ông qua giáo sĩ nhà Dòng (1)
Nhằm mở rộng tiến trình dâng nước Chúa (Hiến nước Việt Nam cho ông “Chúa” ở đâu trên mây, nhưng Vatican là kẻ nắm giữ chìa khóa kho).

Qua Pháp, cúi, hầu, lòn vua Bảo Đại
Xưng rằng “thần” trung hậu với Chúa công
Nhẫn chịu khom khi ước vọng đã xong
Về nước, phản, tố ngay ông Hoàng thượng.
Hoàng đế nghẹn, bà Nam Phương chưng hửng
Thế là xong, ông thao túng Nam phần
Tiêu diệt dần những đảng phái  trên cân
Còn súng đạn phía sau lưng có Mỹ
Năm sáu ba (1963) người dân không chịu nổi
Những độc tài gian ác đến dã man
Toàn quân dân Nam bộ quyết  sẵn sàng
Hè đảo chánh và triều ông kết thúc.
Nay, hải ngoại một số người hì hục
Gồm Cần Lao Nhân Vị đảng viên xưa
Họ xúm nhau ca xối xả như mưa
Cùng cất giọng: “tinh thần Ngô khôi phục”.
Họ đào dựng tiết tâm ông, “chánh trực”
Mỹ  bỏ rơi vì kháng cự anh hai
Không cho quân đổ bộ kiếm Con lai
Nên anh Mỹ vả tai cho khuất mắt?
Hãy nên nhớ, phịa như trên không chắc
Nguyên vì rằng ngay trước thuở sáu hai (1962)
Một văn thư kêu cứu đến van nài (2)
Yêu cầu Mỹ đổ quân qua cho sớm
Văn thư ấy, Bộ Quốc phòng đóng dấu
Người ký tên Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần
Nên hiểu rằng ông Diệm phải chuẩn nguyên
Bằng  chẳng thế ba đầu chưa dám ký!

Phó TT Hoa kỳ L.B.Johnson, Ngô Đình Diệm và đại sứ Nolting. Ảnh http://vi.wikipedia.org/wiki/

_________

Chú thích:
(1) Hồng Y Francis Spellman.
(2) Đỗ Phó TT Hoa kỳ L.B.Johnson, Ngô Đình Diệm và đại sứ Nolting. Ảnh http://vi.wikipedia.org/wiki/
Mậu, “VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI”, Cali -1987, Chương 16: Quan hệ Mỹ- Diệm: “… Tài liệu mật của Ngũ giác đài dưới đây tiết lộ một bản mật điện của Toà đại sứ Mỹ tại Sài gòn gởi về Washington trình bày về cuộc thương thảo giữa Đại sứ Nolting và ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Bộ trưởng Phủ Tổng thống, cho thấy những bí ẩn đó: Những đòi hỏi vào năm 1961 của Việt nam về những đơn vị tác chiến Hoa kỳ. Điện văn từ Toà đại sứ Mỹ tại Sài gòn gởi Bộ ngoại giao 13-10-1961 về những đòi hỏi của Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Quốc phòng của miền Nam Việt nam. Bản sao gởi Bộ Tư lệnh Lực lượng Thái Bình Dương và Toà đại sứ Mỹ tại Bangkok Thailand và Taipei Taiwan. Trong buổi họp 13-10 Thuần đã đưa ra những đòi hỏi sau đây:

Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần gặp Tổng thống Kennedy tại Nhà Trắng năm 1961. Ảnh http://www.skyscrapercity.com/

1- Thêm phi đoàn AD-6 thay vì phi đoàn T-20 như đã dự định và gởi qua càng sớm càng tốt.

2- Yêu cầu cung cấp phi công dân sự Mỹ để lái máy bay trực thăng và phi cơ C-47 để bay những phi vụ tác chiến.

3- Nhiều đơn vị tác chiến Hoa kỳ, hoặc những đơn vị gọi là “huấn luyện tác chiến” vào miền Nam Việt nam. Một phần để đóng ở phía Bắc gần vĩ tuyến 17 để thay các lực lượng QĐVNCH ở đó phải bận đi chống du kích ở vùng Cao nguyên. Và cũng để đóng ở nhiều tỉnh của vùng Cao nguyên Trung Việt.

4- Phản ứng của Hoa kỳ về dự định của Việt nam yêu cầu Trung Hoa quốc gia gởi một sư đoàn tác chiến cho mặt trận Tây Nam.

Thuần nhắc đến những tập nhật ký lấy được từ những sĩ quan Việt Minh bị giết ở miền Trung, trong đó có tin tức về những dự án và kỹ thuật của Việt Minh. Những tài liệu này đang được phân tích, dịch ra và sẽ được chuyển về (Hoa Kỳ). Thuần nói: ông Diệm, vì thấy hiện tình của Lào, sự xâm nhập (của Việt Minh) vào Nam Việt Nam và việc Tổng thống JFK gởi Taylor (qua Việt Nam), đã yêu cầu Hoa Kỳ xét gấp những đòi hỏi của Nam Việt Nam.

Về việc đòi hỏi gởi những đơn vị huấn luyện tác chiến Mỹ, Nolting hỏi xem ông Diệm có xét kỹ vấn đề chưa vì đã có nhiều chống đối liên tiếp đòi hỏi này. Thuần xác nhận rằng có, và rằng ông Diệm đã đổi ý kiến (muốn Hoa Kỳ gởi quân qua Việt Nam) vì tình hình càng ngày càng tệ hại hơn. Thuần muốn Hoa Kỳ biểu dương lực lượng gần vĩ tuyến 17 để ngăn ngừa Cộng Sản tấn công, và để thay thế lực lượng VNCH ở đó. Cũng cần những đơn vị Hoa Kỳ đóng ở những tỉnh cao nguyên, cho cùng một mục đích: thay thế cho quân lực VNCH ở đó….” –

Sóng từ trường

Bảo Ninh, Nỗi Buồn Chiến Tranh

   Nỗi Buồn Chiến Tranh hay Thân Phận Tình Yêu, hai tựa đề, một tác phẩm. Dường như tác giả đã lưỡng lự lâu lắm giữa Nỗi Buồn Chiến Tranh(1) và Thân Phận Tình Yêu. Sau cùng, tuy lựa Nỗi Buồn Chiến Tranh nhưng vẫn lưu lại Thân Phận Tình Yêu nơi bìa sau. Một sự phân vân dễ hiểu và hợp lý, vì trong nỗi buồn chiến tranh nổi trôi  thân phận tình yêu. Vả qua bao gian nan, khốc liệt, tình yêu vẫn sống, vẫn tiếp tục là nguồn sống trước chiến tranh, trong chiến tranh và ngoài chiến tranh. Trong khi chiến tranh đã kết thúc, đã chết mà tàn tích – tức nỗi buồn – vẫn còn tiếp tục hủy diệt tâm hồn và thể xác con người.

*

   Nỗi Buồn Chiến Tranh viết về cuộc đời một chiến binh với những hồi khứ đứt đoạn hay liên tục, là ánh hồi quang chiếu xuống những đoản đời. Là khúc thương ca, tâm ca, tình ca thơ mộng, tuyệt diệu và tuyệt vọng, hãi hùng và bi thảm; quyến luyện thực tại và ảo giác, cuộc sống và cõi chết, quá khứ và vị lai. Trong những tiểu thuyết viết về cuộc chiến 20 năm, phát xuất từ những nhân chứng phía Nam hay phía Bắc, đây là tác phẩm xâu sa, đớn đau, tàn khốc, bi quan và cũng lạc quan hơn cả.

Truyện viết về đời Kiên, người bộ đội thuộc cánh quân trinh sát, trong mười năm chiến tranh và mười năm hòa bình. Kiên xuất thân từ một gia đình trí thức tiểu tư sản miền Bắc. Cha là họa sĩ, một họa sĩ phạm “tội đồ”, bị chối bỏ, người ta phê phán tranh ông thể hiện những chân dung ma quỷ. Người họa sĩ đó, lạc loài giữa xã hội người, đành hội nhập vào xã hội không người, xã hội yêu ma “siêu thực” của những nhân vật bi thảm trong tranh, đắm chìm trong thế giới ảo giác và sau cùng, đã tiêu hủy toàn bộ sáng tác trước khi từ giã cõi đời, để được cùng những đứa con tinh thần của mình bước sang cõi khác.

   Mẹ Kiên, một đảng viên, bỏ cha từ lúc Kiên còn nhỏ. Những kỷ niệm về mẹ rất mơ hồ, trừ vài lời mẹ dặn: “Bây giờ con đã là đội viên thiếu niên, nay mai là vào đoàn […] nên cứng rắn dần lên con ạ.” (trang 135)

   Kiên biết rất ít về người chồng sau của mẹ, một nhà thơ tiền chiến về già. Ông có những quan niệm độc đáo về cuộc đời, người cha dượng ấy đã từng khuyên Kiên: “Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ […], mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy.” (trang 61)

   Kiên là sự hòa hợp hoàn hảo giữa mẹ và cha: xung phong đi bộ đội ở tuổi mười bảy, khăng khăng chiến đấu, bỏ lại người yêu, cứng rắn theo nghĩa mẹ. Và Kiên đã xả thân làm người hùng, tiêu phí cuộc đời trong nghĩa vụ, trong tàn sát, trong chiến thắng, trong sống sót trở về; để rồi không bao giờ thoát khỏi nỗi cô đơn, lạc loài, yếu đuối, ra khỏi nỗi buồn của cha, nỗi buồn gia truyền, nỗi buồn truyền kiếp mà cha đã lưu lại cho anh như một báu vật, như một tài sản duy nhất trước khi ông mất.

   Kiên hành động nhưng không mấy khi chủ động: trong tình yêu, chủ động là Phương. Trên chiến trường, chủ động là bạo lực. Kiên bị lôi vào dòng cuồng lưu của cuộc đời, Kiên đi chiến đấu như một người mụ mẫm trí óc được các “hào quang” dẫn đường, rồi cố gắng vượt qua những cửa tử, nhờ Phương chỉ lối. Kiên tiêu biểu cho tầng lớp thanh niên lớn lên, ngoan ngoãn tuân theo chỉ thị, theo “tiếng gọi non sông”, không đặt vấn đề, không có vấn đề, không đòi hỏi vấn đề.

*

   Phương, người Kiên yêu trọn kiếp, vai phụ mà có chỗ đứng chính trong truyện. Phương xuất hiện không nhiều nhưng thao túng đời Kiên, thao túng mãnh liệt hơn chiến tranh. Từ những ngày thơ ấu, Kiên đã yêu Phương với mối tình thứ nhất. Xa Phương trong mười năm chiến tranh. Khi hòa bình trở lại: gặp Phương một thời rồi vĩnh viễn xa Phương. Trong gặp và xa: Kiên yêu Phương với mối tình thứ nhì.

   Phương là một hiện tượng kỳ ảo: chinh phục con người bằng tình yêu và sống bằng tình yêu. Phương là biểu tượng của tự do, thiết tha, duy cảm, sống hết mình, phung phí sinh lực, rộng chi cảm giác. Phương miệt mài yêu đương, đau thương và nhục cảm. Từ tuổi mười ba, Phương đã tìm hạnh phúc trong tự do tuyệt đối, tự giải phóng mình khỏi mọi thành kiến, mọi lo âu, mọi ràng buộc, mọi quy luật của xã hội loài người. Là kệ, là mặc kệ. Do đó, phần hồn Phương gần gũi với cha Kiên, Phương nghệ sĩ, Phương mang ảo giác của cuộc đời.

   Trong sáng tạo, cha Kiên đã hoài thai khai nhụy -cũng trong tự do tuyệt đối- những tác phẩm nghệ thuật. Nhưng những đứa con đó sớm bị hành quyết. Tuy cha Kiên không tham dự cuộc chiến giết người, nhưng những đứa con tinh thần của ông cũng bị sự ngu muội càn quét, hủy diệt. Phương là người duy nhất hiểu được nỗi buồn chiến tranh của cha Kiên. Và họ yêu nhau, mối tình ngang trái hiện hữu nhưng không thể hiện hình trong cõi đời thường mà đi vào cõi mộng.

   Cha Kiên mất đi, bao nhiêu tình yêu còn lại Phương dồn ép, lồng ấp cho Kiên. Trong những giây phút khắt khe nhất của định mệnh, Phương sẵn sàng liều lĩnh đem sinh mệnh mình để đổi trao lấy một vài khắc giây cuồng điên hạnh phúc với người yêu. Vẫn kệ, vẫn mặc kệ đời, kệ, mặc kệ đạn bom và khói lửa. Nhưng thảm cảnh đêm chia ly cùng với những hẹp hòi u muội của Kiên sau đó đã gạt Phương ra khỏi quỹ đạo đời Kiên. Từ đấy, Phương đem tình yêu của mình chia chác cho những kẻ may mắn khác. Trong lối sống buông thả và phóng đãng, Phương hủy diệt đời mình, tự hủy để được nẩy sinh: Phương là sự vĩnh cửu duy nhất còn sót lại, sau chiến tranh.

*

   Ngoài tình yêu, Nỗi Buồn Chiến Tranh  còn là cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh và chống chiến tranh. Nhận diện chiến tranh dưới những góc cạnh bi quan, tàn nhẫn nhất: qua kinh nghiệm mười năm tàn sát, con người học được những gì về lòng nhân ái? về tình người? về nhân tính?  Những xa xỉ phẩm ấy, hầu hết đều đã vắng mặt trên thị trường xương máu. Khi phải trực diện với cái chết, chỉ có một chân lý đáng giá và đáng kể: “Miễn là không ngỏm trong mùa khô.” (trang 21). Bảo Ninh đã tìm được một định nghĩa hoang mang và khốc liệt về chiến tranh: “Chiến tranh là cõi không nhà không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu, vô cảm, là tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người.” (trang 32)

   Còn hòa bình, hòa bình là gì? Dưới ngòi bút của Bảo Ninh, hòa bình cũng không vinh dự lắm:

   ” – Hừ! Hòa bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại có chút xương. Mà những người được phân công nằm lại góc rừng le là những người đáng sống nhất.” (trang 44)

    Nguyên Ngọc kể lại: “Bảo Ninh có lần tâm sự với tôi rằng anh viết vì câu hỏi: Vì sao anh lại còn sống sót đến hôm nay trong khi hàng trăm, hàng vạn bạn bè của anh cũng trẻ trung, cũng phơi phới, rất nhiều người còn đẹp đẽ hơn anh, tài năng hơn anh bội phần… lại đã mất đi? Câu hỏi dày vò anh đến trọn đời như một niềm ân hận vừa vô lý, vừa có thật không nguôi. Và câu hỏi thứ hai: Tại sao tất cả những điều ghê gớm ấy, bây giờ lại như thế này?”(2)

   Tại sao tất cả những điều ghê gớm ấy chỉ đem lại một thực tại như thế này? Câu hỏi kinh hoàng về bản chất chiến tranh  và cuộc đời, khó giải đáp cho thế hệ Bảo Ninh và cả những thế hệ không có Bảo Ninh, không còn Bảo Ninh. Tiên tri của nhận thức, Phương đã có những hoài nghi rất sớm về bản chất cuộc đời: “Chiến tranh, hòa bình, vào đại học, đi bộ đội khác nhau lắm hay sao? Và thế nào là cuộc đời tốt, cuộc đời xấu? Tình nguyện đi vào bộ đội ở tuổi mười bảy thì cao thượng hơn vào đại học ở tuổi mười bảy hay sao?” (trang150)

   Nhưng “Phương lý” sáng suốt ấy, mấy ai chia sẻ? Người ta cuống cuồng xông vào chiến tranh, xông vào lý tưởng, xông vào những đỉnh cao cuộc đời như những con thiêu thân thèm khát máu đèn, loá mắt, loạn thần vì “cao cả”, mà quên đi những nhỏ nhặt, tầm thường, những viên gạch, hòn sỏi, hạt cát âm thầm nhào nên cuộc sống!

   Như bao nhiêu người khác, Kiên đã ra đi, đã tiêu tán cuộc đời cho chiến tranh, cho lý tưởng, để rồi trong một phút định thần ngoảnh lại, Kiên “đứng lặng ngắm toàn cảnh đời mình đang mất đi, đang trôi xa, đang vĩnh biệt chính mình.” (trang 128). Ðộc thoại trên đây nói lên một thực tại rớm máu: những nhỏ nhặt, tầm thường như ăn, ngủ, chơi, vui, buồn, đau, sầu, nhớ… của cuộc sống hàng ngày, một khi đã được những vinh hạnh to lớn như tổ quốc, lý tưởng… giẫm lên, dày xéo lâu lắt mà không thương tiếc thì không còn cách nào hồi sinh được nữa: con người đã tuyệt tự với cuộc đời.

*

   Chiến tranh đọa đày, chết chóc, thế giới hãi hùng hầu như là độc quyền của đàn ông: đàn ông gây nên chiến tranh và đàn ông hành động. Hành động nhưng không chủ động. Ðàn bà, xuất hiện không nhiều, nhưng nắm vai chủ động: họ là biểu tượng của tha nhân, của tình yêu và độ lượng. Từ Hạnh, người đã cho Kiên những rối loạn cảm giác đầu đời, đến Hòa, người giao liên đã hy sinh trên chiến trường để đồng đội được sống sót, rồi Hiền, người chiến binh tàn tật, đã sống vội vã với Kiên một đêm cuối cùng, dư âm muộn màng của những ngày giã từ cuộc chiến, đến người đàn bà câm, là hầm trú ẩn của Kiên trong những giây phút hoang mang, cô độc nhất của tâm hồn, thời hậu chiến.

   Và sau cùng và trên hết là Phương, người đàn bà hữu hình hay vô hình, đã vượt lên những chết chóc, tàn sát, đã tiếp máu, tiếp thở cho Kiên, đã lôi Kiên ra khỏi bàn tay thần chết và đã trói buộc Kiên mãi mãi với tình yêu. Những người phụ nữ đó không nắm vận mệnh một ai, họ là vận mệnh, họ là định mệnh.

   Kiên tin vào định mệnh. Cuộc đời Kiên và Phương, nếu không có đêm tiễn đưa trước khi Kiên lên đường, nếu Phương không dứt khoát, chủ động đưa Kiên một quãng thì có thể tất cả đã khác: Kiên đã không phải nhúng máu người quá sớm và những dã man của đời lính sau này cũng không thể hiện một cách lạnh lùng và nhẫn tâm đến thế. Từ đêm chia ly định mệnh ấy, Kiên mê lạc trong một lộ trình vạch sẵn, sáng suốt và khiếp đảm của chiến tranh: trong sự vắng mặt của nhân tính, chiến tranh có nghĩa là được phép giết người vì lý tưởng, giết người trong vinh quang, giết người để được vinh dự bảo vệ một cái gì cao cả.

*

   Một trong những khía cạnh bi quan và lạc quan nhất của Nỗi Buồn Chiến Tranh là đối lập bản chất tự tôn, anh hùng của người nam với tiềm năng tự tại, nhẫn nhục nơi người nữ, Bảo Ninh đã đạt tới những mâu thuẫn cao độ trong cùng một tác phẩm.

   Tình yêu là nguồn của cuộc đời: phụ nữ -qua khả năng yêu đương và sinh nở- gây ra sự sống. Nhưng họ không có khí giới, sức lực để bảo vệ sự sống. Ngược lại, người nam, có khả năng yêu đương nhưng không có khả năng sinh nở, dùng sức mạnh như một quyền lực tối cao để tận hưởng và phung phí sinh mạng, như để trả đũa cho sự bất lực của mình trước nghĩa vụ cấu tạo cuộc đời: Ðó là mâu thuẫn sâu xa và bi thảm nhất của con người, trực diện với tình yêu, sự sống và sự chết.

   Sự mâu thuẫn này còn xẩy ra trong sáng tạo: Nghệ sĩ và tác phẩm có thể tồn tại được trong một môi trường bảo thủ, lấy khủng bố làm khí giới đương đầu với nghệ thuật, ưa khai tử cái mới, thích hành quyết cái lạ, không ưng thám hiểm những vùng chưa biết mà chỉ thèm thuồng nhai lại những ợ chua trong thực quản của chính mình, ròng rã hơn nửa thế kỷ rồi mà chưa thấy chán?

*

   Nỗi Buồn Chiến Tranh hay Thân Phận Tình Yêu còn đối chất tình yêu với chiến tranh, hai kỳ phùng địch thủ:

– Một bên thiêng liêng, tha thiết, bắt nguồn cho sự sống.

– Một bên hung tàn, vô độ và hủy diệt sự sống.

Trong  cuộc tranh đấu không ngừng giữa hai phạm trù đối lập ấy: Chiến tranh với sức công phá mãnh liệt, đã tàn sát và hủy diệt tất cả: từ cỏ cây, hoa lá, xác người và đến cả hồn người. Nhưng chiến tranh không tiêu diệt được tình yêu: thái độ lạc quan đến tuyệt diệu ấy của tác phẩm, mấy ai đạt được?

Tết Nhâm Thân, 1992.

Chú thích

(1) Bài này được viết vào dịp tết Nhâm Thân 1992, tôi chưa biết gì về Bảo Ninh. Sau này, được biết, Nỗi Buồn Chiến Tranh viết xong năm 89. Hội Nhà Văn in thành sách tháng 12-1990, với tựa Thân Phận Tình Yêu, do nhà xuất bản “đề nghị”, nhiều đoạn bị cắt bỏ. Thân Phận Tình Yêu là một trong ba tác phẩm được giải văn xuôi vào tháng 9 năm 1991. Ít lâu sau, tác phẩm được tái bản và lấy lại tên cũ là Nỗi Buồn Chiến Tranh.

(2) Trích bài Trường Viết Văn Nguyễn Du, Một Sự Nghiệp Ðáng Say Mê, Nguyên Ngọc, báo Văn Nghệ, số 47, ra ngày 25-11-1989.

© 1991-1998 Thụy Khuê

Hàn Mặc Tử (1912-1940)

Tiểu sử

Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, là con ông Nguyễn Văn Toản và bà Nguyễn Thị Duy, sinh ngày 22/9/1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới, trong một gia đình công giáo lâu đời, có 6 người con, bốn trai, hai gái (Nhân, Lễ, Nghiã, Trí, Tín và Hiếu). Cha làm thông phán phải thuyên chuyển dọc theo bờ biển Trung Việt từ Đồng Hới tới Quy Nhơn, khi ông đổi đến Sa Kỳ (1920), Trí và Tín (Nguyễn Bá Tín) mới vào trường tiểu học Quảng Ngãi.

Tháng 6/1926, sau khi cha mất, gia đình về Quy Nhơn sống với người anh cả, Trí và Tín vào trung học ở Quy Nhơn. Sau đó Trí ra Huế học trường Pellerin (1928-1930). Một lần bơi xa ngoài biển suýt chết đuối, từ đó Trí thay đổi hẳn tâm tính, trầm lặng hơn, có vẻ đau yếu, gia đình nghi Trí mắc bệnh tâm thần, ít ăn, lười tắm gội  thay quần áo.

Hàn Mặc Tử bắt đầu nổi tiếng năm 1931 với bút hiệu P.T (Phong Trần). Năm 1932, làm việc ở sở đạc điền Quy Nhơn, quen với Quách Tấn. 1935 vào Sài Gòn làm báo. Tháng 5/1936 người anh cả Nguyễn Bá Nhân, cột trụ của gia đình mất. Hàn rời Sài Gòn về Quy Nhơn. Cuối năm 1936, gia đình bỏ tiền cho Hàn in Gái quê.

Ngay từ đầu năm 1935, trong nhà đã thấy xuất hiện triệu chứng bệnh phong. Năm 1936, bệnh phát rõ hơn. Nhà giấu, chữa chạy riêng, tìm đến các thày thuốc bắc. Đến giữa năm 1939, thuốc bắc vô hiệu, bệnh trở nên trầm trọng. Giữa năm 1940, phải đưa vào bệnh viện phong Tuy Hoà. Quá trễ. Thuốc của một vài ông lang băm đã huỷ hoại cơ thể. Hàn Mặc Tử mất tại trại cùi ngày 11/ 11/ 1940, 28 tuổi.

Làm thơ từ 16 tuổi (1928), bút hiệu Minh Duệ Thị. Khoảng 1930-31, đổi là Phong Trần. Từ 1935, đổi ra Lệ Thanh, sau thành Hàn Mạc Tử (Hàn Mạc là bức rèm lạnh), và sau cùng là Hàn Mặc Tử (Hàn Mặc Tử là chàng bút mực), đó là theo sự giải thích của Quách Tấn. Nguyễn Bá Tín cũng cho rằng bút hiệu của anh ông là Hàn Mặc Tử, nhưng Hàn là nghèo chứ không phải lạnh. Chế Lan Viên chọn tên Hàn Mặc Tử, vì ông bảo rằng trong lúc nói chuyện, chúng tôi gọi nhau như thế. Nhưng có những nguồn khác, như Võ Long Tê và Phạm Đán Bình, tìm lại báo cũ, thấy hai bút hiệu Hàn Mạc Tử và Hàn Mặc Tử được dùng song song trên mặt báo.

(Tiểu sử này phần lớn dựa theo thông tin của Nguyễn Bá Tín).

Người yêu: Cô Trà (Thu Yến), Mỹ Thiện, Hoàng Hoa (Cúc), Mộng Cầm (Nghệ, cháu Bích Khê), Mai Đình (Lê Thị Mai), Ngọc Sương (chị Bích Khê), Thương Thương (Trần Thanh Địch giới thiệu)…

Vấn đề văn bản Hàn Mạc Tử

Nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại viết tác phẩm đầu tiên Hàn Mạc Tử (1912-1940), in 1942, hai năm sau khi thi sĩ qua đời. Ông tập hợp được nhiều văn bản qua tư liệu của em ông là Trần Thanh Địch và cháu ông là Trần Tái Phùng, cả hai đều là bạn thân của Hàn Mặc Tử. Nguyễn Bá Tín viết :”Tôi biết anh gửi cho Trần Thanh Địch và Trần Tái Phùng nhiều hơn hết, coi như gần đủ bộ thơ anh”[1]

Khi sách của Trần Thanh Mại ra đời tháng 2/1942, Quách Tấn kiện vì sách đã trích dẫn khá nhiều thơ Hàn Mặc Tử chưa in, “có hại” cho việc xuất bản thơ Hàn Mặc Tử sau này. Vụ kiện xẩy ra ở Huế, do Nguyễn Tiến Lãng, lúc ấy là Thừa phủ Thừa Thiên, xử. Nhờ sự dàn xếp khéo léo của Nguyễn Tiến Lãng mà mọi việc được êm đẹp[2]. Quách Tấn là người đã giúp đỡ tiền bạc để Hàn Mặc Tử chữa bệnh. Sau khi Hàn mất, gia đình chính thức giao phó việc in thơ cho ông, Nguyễn Bá Tín viết: « Khi tôi ở Lào về thì chú Hiếu[3] đã chuyển giao bút tích văn thơ tất cả cho anh Tấn. Chú sợ bị lây nên không sao chép, không kiểm nhận»[4] Nhưng Quách Tấn  không làm được việc ấy, và khi chiến tranh xẩy ra, ông đã đánh mất hết toàn bộ bút tích bản thảo của Hàn Mặc Tử. Nhờ tác phẩm của Trần Thanh Mại, mà những phần hay nhất trong thơ Hàn Mặc Tử được phổ biến từ 1942.

Ngoài tập Gái quê, do chính gia đình bỏ tiền ra in năm 1936, trong suốt những năm bệnh tật và nghèo khổ, Hàn còn phải lo tìm cách in thơ, nhưng những cố gắng của Hàn đều thất bại. Hoàng Diệp viết: “Suốt ba năm kế tiếp 1937, 1938 và 1939, ngoài sự sáng tác Hàn Mặc Tử phải mất nhiều thì giờ trong việc tìm kiếm lại tất cả những bài thơ chàng đã làm, để chuẩn bị cho việc ấn hành”[5]. Hai người bạn tâm giao là Quách Tấn và Trần Thanh Địch không có đủ tiền in. “Cuối cùng Thế Lữ xuất hiện và hứa giúp chàng hoàn thành việc ấy. Thế Lữ là một thi sĩ có danh vọng bậc nhất, thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn ở Hà Nội”. Nhưng “Sau nhiều ngày theo dõi, thúc giục, Hàn Mặc Tử nhận được tin đầy tang tóc kết thúc công việc in thơ chàng. Thế Lữ vừa cho chàng biết rằng trên một chuyến tàu xuôi về Hải Phòng, tập thơ của chàng đã bị bỏ quên và không tìm lại được nữa”[6].

Các sự đánh mất thơ Hàn Mặc Tử, từ Thế Lữ đến Quách Tấn, là do định mệnh hay cái gì khác?

1942, tập Thơ Hàn Mạc Tử do Quách Tấn và Chế Lan Viên sưu tập được Đông Phương xuất bản tại Sài Gòn. 1959, Tân Việt tái bản, tập hợp thêm một số thơ khác, nhưng vẫn còn thiếu nhiều. 1944, Tập Chơi giữa mùa trăng, được Ngày Mới in ở Hà Nội[7]. Đó là tất cả những gì in trước 1945.

Ở Sài Gòn, Báo Văn làm hai số tưởng niệm Hàn Mặc Tử (1967 và 1971), Báo Văn Học, cũng có hai số đặc biệt năm 1974.

1987, Chế Lan Viên sưu tập và viết bài tựa cho Tuyển tập Hàn Mạc Tử, (nxb Văn học Hà Nội), đầy đủ hơn những tập thơ trước, gồm một số thơ Đường và thơ trích từ các tập Gái quê, Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Chơi giữ mùa trăng.

1993, Phan Cự Đệ soạn “Hàn Mặc Tử tác phẩm phê bình và tưởng niệm” (nxb Giáo Dục) tập hợp các bài viết về Hàn Mặc Tử, và tìm thêm được một số thơ nữa đã in trên báo cũ.

1994, Lại Nguyên Ân soạn tập thơ Hàn Mặc Tử, (nxb Hội Nhà văn), gồm các tập Gái quê, Chơi giữa mùa trăng, Đau thương và Xuân như ý.

1996, Vương Trí Nhàn sưu tầm và biên soạn Hàn Mặc Tử hôm qua và hôm nay (nxb Hội nhà văn), tập hợp ba cuốn sách của Trần Thanh Mại, Quách Tấn và Nguyễn Bá Tín và một số bài viết khác.

Tóm lại, nhờ những tác phẩm của Trần Thanh Mại, Quách Tấn, Nguyễn Bá Tín, nhờ những bài viết của các bạn thân của Hàn như Chế Lan Viên, Hoàng Diệp, Trần Tái Phùng… hoặc của  những nhà nghiên cứu như Võ Long Tê, Phạm Đán Bình, v.v…  mà chúng ta biết thêm về tiểu sử và tác phẩm của Hàn Mặc Tử, biết về những mối tình, những người yêu, về bệnh tật, sự nghèo đói, và những ngày sau cùng của Hàn Mặc Tử. Nhưng viết về thơ Hàn Mặc Tử, có lẽ chỉ Trần Tái Phùng, Chế Lan Viên và Võ Long Tê là hiểu thơ Hàn hơn cả.

 

******

 

Đường thơ bất tận và đường đời ngắn ngủi của Hàn Mặc Tử chập nhau trong khoảng mười năm, để lại những tiếng thơ bất hủ cho hậu thế.

Thơ Hàn Mặc Tử đi từ trong sáng đến đau thương, bay lên thượng tầng đớn đau chết chóc, rồi trở lại những tinh khiết ban đầu như chưa bao giờ bợn gợn những vật vã kinh hoàng trần thế. Thơ đi cùng Hàn từ thơ ấu đến dậy thì, thành niên với những say mê đắm đuối, rồi thơ mắc bạo bệnh về cõi chết cùng Hàn.

Nhưng ở những giây phút khắc nghiệt nhất, hoang loạn nhất, vẫn có hai Hàn, hai thơ: một Hàn của mộng đẹp khi cơn đau lắng xuống và một Hàn của mộng dữ khi cơn đau dấy lên cực điểm. Một Hàn thổ huyết và một Hàn trở lại bình an sau mỗi sóng bão phong ba.

Hiền mộng và ác mộng, trong sáng đắm say và đau thương kinh hoàng, gắn bó với nhau như hai mặt của cuộc đời. Cũng là trăng, chỉ trong khoảnh khắc, trăng của Hàn có những tâm độ cực kỳ khác nhau: trăng vừa là người yêu, là cõi mộng mà thoắt đấy, trăng đã trở thành yêu ma, thần chết.

Tập thơ đầu Gái quê với những bài như Nụ cười, Gái quê, Tiếng vang, Nắng tươi, Tình quê, Bẽn lẽn, Uống trăng,… phản ánh những “trong sáng thơ” của tuổi hai mươi đầy sinh lực. Gái quê ra đời cuối năm 1936, bệnh phong đã phát, nhưng chưa đau đớn; thơ Hàn lúc ấy là mối giao cảm giữa thiên nhiên và con người trong suốt như pha lê.

Đến Đau thương, tình thế đã khác. Hàn gọi Đau thương là thơ điên. Đau thương là tập thơ hay nhất và cũng chịu nhiều cay đắng bất hạnh nhất, không thể in được lúc Hàn còn sống. Sau những mê sảng tột đỉnh của đớn đau bệnh tật trong Đau thương, Hàn tìm lại sự yên tịnh của tâm hồn, nguyện cầu đức Mẹ hằng cứu giúp trong Xuân như ý. Tiếp đến Thượng thanh khí và Cẩm châu duyên, Hàn đã thoát khỏi nỗi đau thể xác, để thăng lên một cõi khác mà hạnh phúc trở lại như chưa hề đớn đau, bệnh hoạn.

Nhục cảm và thân xác

Ngày 11/10/ 1931, trên Thực Nghiệp Dân Báo có in ba bài thơ: Chùa hoang, Gái ở chùa và Thức khuya, ký tên P.T (Quy Nhơn) với lời yêu cầu của tác giả: «Mấy bài thơ sau này xin cảm phiền ngài ấn hành vào báo Thực Nghiệp để chuyển giao cho Mộng Du thi xã ở Huế, rất đội ơn» [Mộng Du thi xã do Phan Bội Châu chủ trì]. Ba bài thơ được Phan chú ý, cụ viết ba bài họa. Trừ Gái ở chùa, không có gì đặc biệt, hai bài Chùa hoang và Thức khuya, tuy làm theo Đường luật, nhưng nội dung đã khác hẳn với lối ngâm vịnh gió trăng, đã báo hiệu một phong cách mới, phong cách Hàn Mặc Tử, với hai yếu tố chính: nhục cảm và thân xác, gần như cấm kỵ thời ấy:

Chùa không sư tụng cảnh buồn teo

Xác Phật còn đây, chuỗi phật đâu?

Réo rắt cành thông thay tiếng kệ

Lập lòe bóng đốm thế đèn treo

Hương rầu khói lạnh nằm ngơ ngác

Vách chán đêm suông đứng dãi dầu

Rứa cũng trơ gan cùng tuế nguyệt

Trước thềm khắc khoải giọng quyên kêu. (Chùa hoang).

Sự táo bạo đến từ chữ hoang. Nếu nói đúng cú pháp: chùa bỏ hoang, ý nghiã khác hẳn. Chùa hoang gợi sự phóng túng gần như trụy lạc. Đấy mới là tên bài thơ. Rồi tiếp theo là hai câu đầu:

Chùa không sư tụng cảnh buồn teo / Xác Phật còn đây, chuỗi phật đâu?

Cảnh đã chùa hoang, lại còn thêm không sư với xác Phật, thật tai quái và phạm thượng.

Sau này trong các bản in sau, hai chữ xác Phật bị người ta sửa[8] thành cốt Phật, đúng khuôn phép chữ nghiã dùng cho nhà Phật đấy, nhưng mất hẳn cá tính. Tiếp đến bốn câu: Réo rắt cành thông thay tiếng kệ / Lập lòe bóng đốm thế đèn treo / Hương rầu khói lạnh nằm ngơ ngác / Vách chán đêm suông đứng dãi dầu. Cả một giọng chán chường: hương lạnh, tình tàn. Những chữ: Réo rắt, lập lòe, bóng đốm, hương rầu, khói lạnh, nằm ngơ ngác, vách chán, đêm suông… gợi cái im vắng khuya khoắt của xóm cô đầu, nhà chứa, hơn là không khí từ bi, thanh tịnh, nhà chùa. Đó là sự “phạm thượng” của thiên tài: Hàn Mặc Tử bắt đầu đời thơ của mình bằng một cuộc cách mệnh chữ nghiã và tư tưởng như thế.

Bài Thức khuya đi xa hơn nữa, với hai câu tuyệt bút:

Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.

Với những chữ: leo song, rờ rẫm, cọ mài, Hàn đã cấp cho trăng gió, gối chăn -những ẩn dụ sáo mòn- một nội dung hoàn toàn mới, sống động hơn, gợi cảm hơn, xác thịt hơn. Hai câu thơ bất hủ này làm từ năm 1931. Sau này, hai chữ rờ rẫm của Hàn bị người ta sửa thành sờ sẫm, thanh lịch hơn, nhưng đã xoá mất cái rạo rực gồ ghề của âm r trong rờ rẫm, để thay thế bằng cái xoàng xĩnh, nhẵn bóng của âm s trong sờ sẫm.

Về mặt tư tưởng, với hai câu Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối / Gió thu lọt cửa cọ mài chăn, Hàn Mặc Tử đã đem thơ bước sang giai đoạn mới, thoát khỏi vòng luân lý đạo đức  1930, để nói đến thân xác không như một thực thể cấm kỵ “nhơ bẩn” theo quan niệm đạo đức của những người cùng thời, mà như một thực thể yêu, một thực thể thơ.

Về cấu trúc, hai câu thơ Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối / Gió thu lọt cửa cọ mài chăn đã không gian hoá việc hành tình, bởi Hàn đã:

– Chắp nối bóng nguyệt với gối chăn, hai đối tượng một trên trời, một dưới đất.

– Mà nguyệt lại là trăng, trăng tuy là “chất đặc” nhưng giống như sữa đục, nó gợi đến một “chất lỏng” khác. Chính nhờ khả năng biến thể của trăng từ đặc sang lỏng, mà sự kiện “bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối” bỗng nhiên trở thành cuộc hành tình giữa hai thực thể cách nhau vạn dặm một đất một trời.

Nhưng Hàn Mặc Tử, ngày ấy, là một vì sao khuất[9]

Thơ Hàn không được người đương thời đánh giá cao, không được giải Tự Lực Văn Đoàn. Gái quê (1936) là một khai phá, nhưng không ai chú ý. Tập thơ thứ nhì, Đau Thương, gửi bản thảo cho Thế Lữ thì bị đánh mất! Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan có giới thiệu thơ Hàn, nhưng với giọng chê bai[10].

Ngày nay tìm hiểu lại thơ văn Hàn Mặc Tử, chúng ta có thể xác nhận: Hàn Mặc Tử là nhà thơ tiên phong đã đổi mới tư tưởng, đặt nền móng tưởng tượng trong thơ Việt Nam, ngay từ thập niên ba mươi của thế kỷ trước. Hai bài Chùa hoang và Thức khuya, đã mở về thân xác con người, tạo ra bút pháp không gian, mà trăng, nước và khí trời là ba yếu tố nền tảng xây dựng nên vũ trụ thơ Hàn Mạc Tử.

Tưởng tượng và hư ảo

Hàn Mặc Tử dùng tưởng tượng để tạo thế giới hư ảo, nên việc đầu tiên khi khảo sát thơ Hàn là phải xác định thế nào là tưởng tượng (imagination) và hư ảo (imaginaire).

Những người làm thơ đều biết yếu tố chủ chốt trong thơ là hình ảnh (image). Khi nhà thơ tạo được một hình ảnh lạ, câu thơ tăng thêm giá trị. Thông thường người ta vẫn cho rằng: trí tưởng tượng tạo nên hình ảnh, nhưng Gaston Bachelard, đã đưa ra một giải thích khác hẳn, theo ông, tưởng tượng bóp méo (déformer) hình ảnh, nó giúp chúng ta thoát khỏi hình ảnh đầu tiên vừa hiện ra trước mắt, để đi đến những hình ảnh vắng mặt. Nếu một hình ảnh trước mắt không dẫn đến một hình ảnh vắng mặt, hoặc một hình ảnh thoáng qua không dẫn đến một chuỗi hình ảnh khác đang lang thang đây đó, thì không có tưởng tượng. Vậy cái cơ bản trong tưởng tượng không phải là hình ảnh mà là hư ảo. Nhờ hư ảo mà tưởng tượng mở ra, dẫn ta đến những chân trời mới lạ, những hình ảnh khác thường. Một hình ảnh cố định, không có giá trị cao trong thơ. Một câu thơ hay luôn luôn mời ta vào những chuyến viễn du, vào những hành trình hư ảo. Những bài thơ hay của Hàn Mặc Tử luôn luôn là những chuyến viễn du hư ảo đó. Bachelard còn tìm thấy điều này nữa: Người ta không tưởng tượng từ một vật cụ thể như cái bàn cái ghế, mà người ta tưởng tượng từ một vật chất. Ông xác định bốn yếu tố cơ bản mà tưởng tượng dựa vào là lửa, nước, đất và trời (hay không khí). Nếu đem lập luận của Bachelard chiếu vào thơ Hàn Mặc Tử, ta thấy những ánh sáng mới: Nhờ trí tưởng tượng phi thường, dựa trên hai yếu tố vật chất: nước và trăng, Hàn Mặc Tử đã hư ảo hoá thực tại, tạo ra một vũ trụ luận mới.

Thử lấy ví dụ trăng, yếu tố quan trọng nhất trong thơ Hàn: tại sao Hàn Mặc Tử có thể tạo ra những trăng khác thường, không giống bất cứ một thứ trăng nào có trước? – Bởi Hàn có  óc tưởng tượng phi thường. Dưới mắt chúng ta, trăng là một thực thể bất động trên bầu trời[11] và trong thơ cổ điển nhà thơ thường phản ảnh vừng trăng quen thuộc ấy:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường (Kiều).

Trăng của Nguyễn Du là trăng hiện thực và tâm lý: Nhìn trăng lưỡi liềm, Nguyễn Du liên tưởng đến sự chia ly giữa hai người tình, và ông thường cho trăng những hình ảnh gần gũi với những gì chúng ta đã biết về trăng: “Tuần trăng khuất, điã dầu hao”, “Lần lần, ngày gió đêm trăng”, “Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần”. Tóm lại, trăng Nguyễn Du vẫn là trăng, bởi ở thời điểm Nguyễn Du, hư ảo và tưởng tượng chưa có chỗ đứng cao trong thi ca[12].

Thơ mới nói chung, cũng vẫn còn nằm trong quỹ đạo hiện thực cổ điển đó. Có nghiã là Thơ mới cũng chỉ nhìn trăng trong vị trí cố định, nhưng nhà thơ chiếu những ống kính khác nhau vào trăng, để tìm ra những lối nói mới, Xuân Diệu viết:

Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá

Ánh sáng tuôn đầy các lối đi (Trăng).

Trăng Xuân Diệu vẫn là trăng, nhưng ông đã nhân trăng lên nhiều lần: nhiều trăng quá. Hoặc cũng có thể hiểu nhiều trăng quá là nhiều ánh trăng quá viết tỉnh lược, nhưng cảnh của Xuân Diệu vẫn là cảnh thật trước mắt, rất nên thơ nhưng chưa hư ảo. Hoặc:

Bâng khuâng chân tiếc dậm lên vàng

Tôi sợ đường trăng dậy tiếng vang (Trăng).

Tuyệt hay, nhưng trăng vẫn còn là trăng: nhà thơ gọi ánh trăng là vàng, con đường đầy ánh trăng viết gọn thành đường trăng, và nếu bạn dẫm lên con đường ấy, bạn sợ nó sẽ kêu lên, nó sẽ “dậy tiếng vang”. Tóm lại, dù dưới những hình ảnh nên thơ tuyệt đẹp, trăng trong thơ Xuân Diệu nói riêng và trong Thơ mới nói chung, vẫn là trăng hiện thực, hiện hữu, được nhân cách hoá.

Hàn Mặc Tử không nhìn trăng như những nhà thơ cổ điển và những nhà thơ mới. Trong thơ Hàn, trăng không còn là trăng nữa. Bởi Hàn không coi trăng như một hình ảnh cố định trên trời, mà Hàn cho trăng một nội dung, một ngoại hình khác hẳn. Nhìn trăng trước mặt, Hàn liên tưởng tới những hình ảnh khác, vắng mặt, và nói theo Bachelard, thì trí tưởng tượng đã giúp Hàn thoát khỏi hình ảnh đầu tiên tiếp nhận được về trăng, để đi đến một chuỗi hình ảnh khác đang lang thang đâu đó trong tâm trí của Hàn. Vì vậy, trăng của Hàn luôn luôn thay đổi hình hài, luôn luôn di chuyển và hành động, chứ không cố định, bất động như trăng “thật”:

Hỡi trăng hãy chặt khóm thùy dương (Tiếng vang)

Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha (Vịnh hoa cúc)

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu / Đợi gió đông về để lả lơi (Bẽn lẽn)

Ô kià, bóng nguyệt trần truồng tắm / Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe (Bẽn lẽn)

Bóng Hằng trong chén ngả nghiêng / Lả lơi tắm mát làm duyên gợi tình (Uống trăng)

Có ai nuốt ánh trăng vàng / Có ai nuốt cả bóng nàng tiên nga (Uống trăng)

Mở cửa nhìn trăng, trăng tái mặt / Khép phòng đốt nến nến rơi châu (trích theo bài của Chế Lan Viên).

Đó mới chỉ là những câu thơ trong giai đoạn đầu, khoảng 1931-33, lúc Hàn mới làm thơ, mà đã toàn là tuyệt bút, bởi Hàn đã lột xác trăng, đưa trăng ra khỏi ý nghiã thông thường, cho trăng những địa chỉ, những căn cước, những tình huống lạ kỳ, huyền diệu. Chúng ta có thể tìm thấy hàng trăm thứ trăng như thế trong thơ văn Hàn, dọc suốt cuộc đời. Trăng Hàn đổi sắc, đổi giống, đổi thể, đổi ngôi, đổi chất, trăng Hàn có thiên hình vạn trạng: Trăng trong câu Hỡi trăng hãy chặt khóm thùy dương là trăng tiều phu; trong Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha, là trăng huyền ảo (fantastique); trong“Trăng nằm sóng soải trên cành liễu” là trăng con gái, trăng ma; trăng trong “Bóng nguyện leo song rờ rẫm gối” là trăng đa tình; trăng trong “Có ai nuốt ánh trăng vàng” là trăng ngọc lỏng; trăng trong “Mở cửa nhìn trăng trăng tái mặt” là trăng phản bội…

Hàn tạo ra những hình ảnh dị kỳ, thoạt trông tưởng là siêu thực, nhưng không phải[13] và lý thuyết siêu thực dựa trên triết học Freud, với cách tạo hình lắp ghép, khác hẳn với “kỹ thuật” tạo hình của Hàn. Dù siêu thực nói nhiều đến mơ, nhưng cái mơ trong siêu thực là mơ tỉnh. Breton bảo những hình ảnh trong siêu thực lấy từ vô thức (tức là trong mơ) ra. Nhưng một khi đã công nhận có vô thức (mơ), tức là phải công nhận có ý thức (tỉnh), nói cách khác, phải có bàn tay tỉnh táo của ý thức đẩy những hình ảnh vào vô thức, rồi lại cũng chính bàn tay ấy lấy nó từ vô thức ra để dùng. Đó là lập luận của Sartre, người luôn luôn phản đối siêu thực, ông cho là giả dối, là giả mơ, thật ra rất tỉnh.

Tóm lại, khoảng1930, khi Hàn Mặc Tử làm thơ, siêu thực chưa đến được Việt Nam. Những hình ảnh trong thơ Hàn, hoàn toàn toát ra từ một trí tưởng tượng siêu phàm gắn bó với một định mệnh khắt khe, trỗi dậy trong những giấc mơ, những cơn ác mộng, chết đi sống lại, trong thác loạn tình yêu và bệnh tật. Trăng của Hàn Mặc Tử là trăng muôn mặt, là trăng hư ảo, xác định sức tưởng tượng kỳ vĩ của nhà thơ.

Vũ trụ luận trong Gái quê

Âm nhạc và không gian

Bài thơ đầu tiên trong tập Gái quê là Nụ cười:

Trăng lên, nước lặng, tre la đà

Rơi bóng im trên đám cỏ hoa

Tiếng động sau vùng lau cỏ mọc

Tiếng ca chen lấn từ trong ra

Tiếng ca ngắt- Cành lá rung rinh

Một nường con gái trông xinh xinh

Ống quần vo xắn lên đầu gối

Da thịt, trời ơi! trắng rợn mình

Cô gái ngây thơ nhìn xuống hồ

Nước trong nổi bật hình dung cô

Nụ cười dưới ấy và trên ấy

Không hẹn, đồng nhau nở lẳng lơ. (Nụ cười)

Thơ rất trẻ nhưng đã lộ bốn yếu tố chính: trăng, nước, nhạc, dục, thể hiện đầy đủ vũ trụ luận mới của Hàn. Tại sao lại gọi là một vũ trụ luận mới? Bởi vì thơ Hàn không chịu nằm trong mặt bằng của trái đất mà luôn luôn tìm cách chiếm lĩnh không gian. Trong bài Nụ cười, trăng (trên trời), truyện trò với tre, nước, cỏ hoa (dưới đất), tiếng ca chen lấn, rồi tiếng ca ngắt (tắt) đi, nhường cho tiếng lá rung rinh. Người con gái bước ra, ống quần vo xắn lên đầu gối, lộ “da thịt, trời ơi! trắng rợn mình”. Nàng nhìn xuống hồ: nước trong làm nổi bật hình dung, rồi nụ cười dưới ấy và trên ấy, đồng loã với cái lẳng lơ của nàng.

Hàn đã dùng chữ để choán không gian, nhờ những: trăng, nước, tre, cỏ, hoa, tiếng ca, thiếu nữ… chiếu vào nhau, xoay chiều, trò truyện, hoà nhịp cùng nhau trong một bức tranh nổi, có chuyển động; lại nhờ những: chen lấn, ngắt, rung rinh, vo xoắn, rợn mình, dưới ấy, trên ấy… mà tất cả có thể bay lên, đáp xuống, trong không gian đượm hương thơm ý nhạc.

Vũ trụ mà Hàn vừa thể hiện qua bài thơ non trẻ đầu đời, là một vũ trụ mới, khác hẳn những bức tranh bằng phẳng, chưa có âm thanh nổi, trong những cảnh thơ cổ điển:

Cỏ non xanh rợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Nguyễn Du bày ra một cảnh đẹp tuyệt vời, nhưng là một cảnh phẳng, theo mặt bằng của trái đất, thơ chưa có âm thanh. Hoặc trong thơ Xuân Diệu:

Một tối bầu trời đắm sắc mây

Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy

Hoa nghiêng xuống cỏ trong khi cỏ

Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầy (Với bàn tay ấy)

Câu nhập đề không có gì đặc biệt. Trọng tâm nằm trong ba câu sau, nhờ những động từ: tìm, nghiêng xuống, mà cỏ cây của Xuân Diệu hơi chuyển động, nhưng vẫn chưa có âm thanh. Xuân Diệu mới chỉ tạo ra một cảnh lặng của đêm: cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy, hoa nghiêng xuống cỏ trong khi cỏ nghiêng xuống làn rêu một tối đầy.

Trong khi Hàn Mặc Tử với: Trăng lên, nước lặng, tre la đà rơi bóng im trên đám cỏ hoa. Tiếng động sau vùng lau cỏ mọc, tiếng ca chen lấn từ trong ra, tiếng ca ngắt- cành lá rung rinh… là một giao hưởng âm thanh và chuyển động xiên chéo, nhiều chiều từ trời xuống đất, từ đất xuống đáy hồ.

Lần đầu tiên trong thơ Việt, Hàn đã tạo ra một cõi thơ nhạc giao hưởng. Bởi vì những chữ: trăng lên, nước lặng, tre la đà, rơi bóng, tiếng ca chen lấn, từ trong ra, tiếng ca ngắt, cành lá rung rinh … đều thể hiện sự di chuyển hoặc phát ra tiếng động, cả những liên từ dưới ấy và trên ấy cũng phản ảnh chiều sâu của vũ trụ không gian. Xuân Diệu và Mặc Tử đều chịu ảnh hưởng Giao cảm (Correspondance) của Baudelaire và âm nhạc của Wagner nhưng Mặc Tử đã tạo được không gian giao cảm có âm thanh, còn ở Xuân Diệu chỉ là sự giao cảm trong mặt bằng thầm lặng.

Lại cần phải phân biệt âm nhạc nội tại trong thơ Hàn với âm nhạc phát xuất từ âm điệu (niêm luật) trong thơ cổ điển, và âm nhạc hình thức trong thơ mới. Ví dụ, Tiếng trúc tuyệt vời của Thế Lữ là bài thơ rất hay, có nhạc, nhưng nhạc của Thế Lữ là nhạc hình thức (nhạc trong thơ của Huy Thông cũng thế), nghiã là nó nằm trong sự mô tả tiếng trúc, tiếng sáo, nhưng với một nhịp điệu tân kỳ, khác với nhạc trong âm luật cổ điển:

Tiếng địch thổi đâu đây

Cớ sao mà réo rắt?

Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt

Mây bay… gió quyến mây bay…

Tiếng vi vút như khuyên van, như dìu dặt

Như hắt hiu cùng hơi gió heo may (Tiếng trúc tuyệt vời).

Thế Lữ mô tả tiếng nhạc, tiếng sáo bằng những vần thơ lạ[14], nhưng Thế Lữ chưa len được vào nội tâm của tiếng trúc, tiếng địch. Vì Thế Lữ chưa “tan” trong nhạc, trong thơ, trong vạn vật, cho nên Thế Lữ chưa nghe được tiếng reo của đáy hồ, chưa nghe và chưa thấy được tiếng vỡ của sao băng, chưa nghe được tiếng nước mây thầm thỉ với ai ngồi dưới trúc… như Hàn Mặc Tử.

Còn Hàn, Hàn cho mình đột nhập vào âm nhạc:

Tôi nhập hồn tôi trong khúc hát

Để nhờ không khí đẩy lên trăng (Chơi trên trăng)

Với một cái hồn linh dị như thế, thơ Hàn gồm hai thế giới trần gian và tiên cảnh, là cõi không và cõi có giao nhau. Thơ Hàn đượm chất nhạc ở trong. Nhạc dưới tất cả mọi hình thức từ những tiếng nhạc say say gió xé rách lả tả của ánh trăng đến tiếng hổn hển của nước mây, đến tiếng gió rít tầng cao trăng ngã ngửa… Âm nhạc trong thơ Hàn là âm nhạc chảy ra từ thân xác thơ, mỗi hình ảnh là một cõi hư ảo thơ, hư ảo nhạc, mỗi chữ đã tẩm nhạc, tẩm hương trong mình, đó là thứ âm nhạc và hương thơm giao hoà trong nội tại thơ, là sự thành thân giữa Hàn và trăng, giữa Hàn và trời nước.

Tình quê là bài thơ thứ ba trong tập Gái quê, đã đạt sự hoàn mỹ trong vũ trụ luận mới: không gian, trời nước và tâm cảnh, hoà tan trong âm nhạc và chuyển động:

Trước sân anh thơ thẩn, đăm đăm trông nhạn về, mây chiều còn phiêu bạt, lang thang trên đồng quê, gió chiều quên dừng lại, dòng nước quên trôi đi, ngàn lau không tiếng nói,   lòng anh dường đê mê, cách nhau ngàn vạn dặm, nhớ chi đến trăng thề, dầu ai không mong đợi, dầu ai không lắng nghe, tiếng buồn trong sương đục, tiếng hờn trong lũy tre, dưới trời thu man mác, bàng bạc khắp sơn khê, dầu ai trên bờ liễu, dầu ai dưới cành lê, với ngày xuân hờ hững, cố quên tình phu thê, trong khi nhìn mây nước, lòng xuân cũng não nề. (Tình quê)

Toàn bài là một bản nhạc, âm thanh bay bổng trong không gian mênh mông, trời nước giao hoà, hình ảnh nối tiếp nhau trong thế liên hoàn, khiến những câu thơ không dứt nhau ra được, tương tự như trường hợp Người hàng xóm của Nguyễn Bính. Nhưng thơ Nguyễn Bính mở vào một cảnh thật trước mắt, có cô hàng xóm, có dậu mồng tơi, có con bướm bướm, bay ra bay vào. Còn Tình quê của Hàn Mạc Tử là một chuỗi những liên tưởng mộng mơ bất tận: Khởi đầu từ hai hình tương đối rõ: trước sân anh thơ thẩn, đăm đăm trông nhạn về, nhưng đã mông lung, bất định, thiên di, qua những thơ thẩn, nhạn về… tiếp theo là những di chuyển khác: Mây chiều còn phiêu bạt, lang thang trên đồi quê, gió chiều quên ngừng lại, dòng nước quên trôi đi… cho đến hết, tất cả đều lôi kéo ta đi, ngay đến những gió chiều quên ngừng lại dòng nước quên trôi đi cũng không cho ta nghỉ ngơi ngừng lại một chốn nào! Thơ “bị” trôi theo điệu nhạc thầm, cho nên dù chỉ “đọc” bằng mắt, chúng ta vẫn “nghe thấy” nhạc, và điệu nhạc mà chúng ta nghe thấy hay do tưởng tượng ấy, có ma lực lôi cuốn ta đi, bắt ta đọc (thầm) hết câu này sang câu khác, hết bài thơ lại muốn “đọc” lại, do sức quyến rũ huyền bí của âm thanh. Vì vậy mỗi câu thơ hay là “một lời mời gọi viễn du” như lời Bachelard tiên đoán.

Trăng – nước trong Đau thương

Tập Đau thương chia làm ba phần: Phần thứ nhất là Hương thơm gồm những bài thơ trong sáng, như Đà Lạt trăng mờ, Huyền ảo, Mùa xuân chín, … Phần thứ nhì : Mật đắng gồm những bài thơ buồn, tuyệt vọng như Những giọt lệ, Cuối thu, Hãy nhập hồn em, Muôn năm sầu thảm… và phần thứ ba: Máu cuồng và hồn điên, thể hiện những thác loạn, nguyệt huyết, chết đi sống lại của Hàn với những bài : Hồn là ai, Biển hồn ta, Sáng láng, Say trăng, Rượt trăng, Trăng tự tử, Chơi trên trăng, Rướm máu, Cô liêu, Trút linh hồn….

Đau thương là tác phẩm chính của Hàn Mặc Tử, và cũng là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của thi ca Việt nam trong thế kỷ XX. Đau thương thể hiện hai vũ trụ: vũ trụ hạnh phúc trong hương thơm và vũ trụ kinh hoàng trong Mật đắng, Máu cuồng và Hồn điên.

Thời trong sáng, những bài thơ hay nhất của Hàn thường là những giấc mơ đẹp:

Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu

Trời mơ trong cảnh thật huyền mơ!

Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt

Như đón từ xa một ý thơ.

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để xem trời giải nghĩa yêu.

Hàng thông lấp loáng đứng trong im

Cành lá in như đã lặng chìm

Hư thực làm sao phân biệt được!

Sông Ngân hà nổi giữa màn đêm

Cả trời say nhuộm một màu trăng

Và cả lòng tôi chẳng nói răng

Không một tiếng gì nghe động chạm

Dẫu là tiếng vỡ của sao băng… (Đà Lạt trăng mờ)

Đà Lạt trăng mờ mở vào không gian siêu hình. Những yếu tố: trăng, nước hồ, sương nhạt, ý thơ, tơ liễu, hàng thông, Ngân hà, sao băng… hoà nhau trong một luân vũ thần tiên, một sự trao thân huyền bí, vô thường, vì không một cảnh quan hiện thực nào có thể như thế cả. Không ai nghe được tiếng tơ liễu run trong gió, không ai thấy được sự đắm đuối của trăng sao, không ai nghe được tiếng reo của đáy hồ, không ai nghe và thấy được tiếng vỡ của sao băng: vũ trụ mới đã lộ, không gian trời nước cao vút của Ngân hà và không gian sâu thẳm đầy bí mật của đáy hồ gặp nhau trong cõi vô chung vô thỉ, giao cảm, chuyện trò với nhau, tan loãng trong nhau như một bản giao hưởng thần tiên chưa bao giờ xẩy ra trên cõi thế.

Hàn Mặc Tử là nhà thơ duy nhất có những câu thơ hay có thể vượt sự trác tuyệt của Nguyễn Du. Nhưng Hàn là một hồn thơ phức tạp, một hồn thơ đầy biến đổi, tương hợp và mâu thuẫn sống trong nhau, những hình thái ngôn từ, hình thái tư tưởng kết hợp giao hoà trong thơ Hàn để tạo thành một thế giới siêu hình, chưa từng có trong thơ Việt. Vì vậy, khi tìm hiểu Đau thương chúng ta phải trở lại với những phạm trù chính đã kết nên thơ Hàn, đó là thơ và nhạc, nước và trăng.

Thơ Hàn có cả thiên đường lẫn địa ngục. Giữa hai cực tương phản ấy, Hàn dùng những thực thể vật chất để nối kết, bắc cầu: đó là trăng và nước. Trăng, một tinh cầu đất đá, nhờ thuật luyện kim kỳ dị của Hàn, trở thành tinh cầu nước. Trăng và nước hoá thân trong nhau, đã là nhau:

Nước hoá thành trăng, trăng ra nước

Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm

Người trăng ăn vận toàn trăng cả (Say trăng).

Trăng và nước trong thơ Hàn gắn bó với nhau như hồn với xác, và nước cũng ẩn trong thơ Hàn như nhạc. Kể cả những bài thơ không nói đến nước, như bài Mùa xuân chín, nước vẫn đẫm trong thơ:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên giàn thiên lý- bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

Bao cô thôn nữ hát trên đồi

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi

Hổn hển như lời của nước mây

Thầm thỉ với ai ngồi dưới trúc

Nghe ra ý vị và thơ ngây.

Khách xa, gặp lúc mùa xuân chín

Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng

Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bò sông trắng nắng chang chang?… (Mùa xuân chín)

Mùa xuân chín vẫn chiếm trọn không gian từ trời xuống đất: Trong làn nắng ửng khói mơ tan, đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Rồi lại từ đất lên trời: Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời. Ở giữa hai đỉnh trời và đất, Hàn treo những cô gái: Bao cô thôn nữ hát trên đồi. Nhưng tiếng hát của họ không chỉ vang trên mặt đồi mà chúng bay lên thượng tầng khí quyển, choán toàn bộ không gian, khi cao vút khi thầm thỉ: Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, hổn hển như lời của nước mây, thầm thỉ với ai ngồi dưới trúc. Bài thơ không có “chủ đề” nước, nhưng nhờ những câu: “sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời” “hổn hển như lời của nước mây” mà thơ hòa trong sóng nước lên tận đến mây xanh, như cuộc hành tình của trời nước.

Hàn dứt khoát là nhà thơ của nước bởi chất nguyên thủy tạo ra thơ Hàn là nước. Hàn không phải là nhà thơ của đất như Nguyễn Du, bởi Hàn không bận tâm đến những gì xẩy ra trên mặt đất, từ đời người, đến kiếp người, đến mộ phần, đến cõi âm, đến báo mộng… như Nguyễn Du. Tất cả những gì xẩy ra trên mặt đất, Hàn đều bắn lên không trung. Hàn luôn luôn nối kết hai yếu tố trăng (trên trời) và nước (dưới đất) với nhau để tạo thành một khối, trong đó tất cả di chuyển theo chiều nổi của không gian chứ không theo mặt bằng của trái đất.

Trong suốt thời gian ngắn ngủi sống trên trần, Hàn mang hai không gian thơ trong lục phủ ngũ tạng: một không gian thổ huyết của bệnh tật, và một không gian trong suốt như pha lê của hạnh phúc. Nhưng đặc biệt nhất ở Hàn là sự quy hồi hạnh phúc. Trong đoạn sống sau cùng, thơ đã rời tất cả những đau thương hệ lụy, Hàn lại trở về với không gian trong sáng xưa, bài Đây thôn Vỹ Dạ, Hàn làm mấy tháng trước khi mất:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…

Thuyền ai đậu bến Sông Trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra…

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà? (Đây thôn Vỹ Dạ)

Bao nhiêu đổi thay, bao nhiêu kinh hoàng đã đến với Hàn, từ Mùa xuân chín đến Đây thôn Vỹ Dạ, nhưng thơ vẫn ướp hương thơm không gian thủa nào, nước vẫn ẩn trong thơ trong nhạc : Gió theo lối gió, mây đường mây. Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay… Thuyền ai đậu bến Sông Trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay?

Một người hiểu thấu triệt âm nhạc của Hàn, không phải nhà phê bình, mà là một nhạc sĩ: Phạm Duy. Phạm Duy đã bắt được ý nhạc bay bổng và trong sáng của Hàn từ Tình quê đến Đây thôn Vỹ Dạ, ông đã theo Hàn trong những không gian kinh dị của bệnh tật và bắt được hồn Hàn trong Ave Maria. Cho nên khi Phạm Duy phổ thơ Hàn Mặc Tử, thơ và nhạc quyện lấy hồn nhau.

Thơ Hàn bay đến cung Hằng, rồi dội xuống trần gian chạm vùng trần trụi nhất của nhục thể. Thơ Hàn mang chất mơ hồ, huyền bí của trăng, một ánh trăng đục, giao thoa giữa lỏng và đặc. Thơ Hàn chính là sữa trăng, là những say sưa vọng cuồng xác thịt nơi chàng trai mới lớn, đam mê nhục thể không dám nói, không dám làm trong đời sống, mà thể hiện trong thơ qua môi giới của gió, trăng:

Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn  (Thức khuya)

Mới lớn lên trăng đã thẹn thò.

Thơm như tình ái của ni cô (Huyền ảo)

Chàng trai nhút nhát, bẽn lẽn, cả thẹn, tìm chỗ cao nhất để giấu những say mê đắm đuối, thèm muốn xác thịt của mình, cho mọi người đừng biết: chàng gửi lên trăng. Vì thế thơ Hàn bay lên không gian, chứ không lắng xuống hay tản dài theo chiều đất. Ngay cả sau này, khi đau đớn đến ngất đi, ngày một đến gần cõi chết, thơ Hàn vẫn cứ phải bay lên. Nhờ cấu trúc không gian ấy mà Hàn đã tạo ra một quang cảnh không thể có được ngoài cõi mộng. Hàn đã là trăng trong Thức khuya để leo song vào cõi mộng với người yêu. Hàn đã là trăng trong Huyền ảo, một vừng trăng dậy thì, trăng mới lớn, trăng ao ước mê đắm nghĩ đến giây phút dục lạc thần tiên đầu đời. Hàn hoá thân trăng trong Bẽn lẽn, thành người thiếu nữ gợi cám dỗ của trái cấm, nàng là hiện thân của xác thịt:

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi.

Hoa lá ngây tình không muốn động,

Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi!

Trong khóm vi lau rào rạt mãi:

Tiếng lòng ai nói? sao im đi?

Ô kìa, bóng  nguyệt trần truồng tắm,

Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe…

Vô tình để gió hôn lên má,

Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm…

Em sợ lang quân em biết được,

Nghi ngờ tới cái tiết trinh em  (Bẽn lẽn)

Nhưng tất cả chỉ là tưởng tượng, sự cám dỗ của xác thịt cũng là tưởng tượng và cái tiết trinh của người phụ nữ trong thơ chính là cái trinh tiết của Hàn. Bởi Hàn cho đến chết, dường như vẫn là cậu trai tân. Là vì sao lạ trên bầu trời đêm, thời gian sống quá ngắn không cho Hàn kịp nếm đủ vị  đời. Ở Sài gòn khi còn khoẻ, bị bạn bè ép dẫn đến xóm bình khang, Hàn đã bỏ chạy, về nhà ốm đến phát sốt mấy ngày. Tại Quy Nhơn, khi biết mình mắc bệnh,”người yêu” đến thăm, Hàn nài nỉ nhờ em trai cùng ngồi tiếp khách. Khi tất cả đều đã đi khỏi, cả người thân lẫn người tình, thơ Hàn vọng lên như những tiếng nấc của niềm trinh bên kia cõi sống:

Thu héo nấc thành những tiếng khô

Một vì sao lạ mọc phương mô ?

Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ ?

Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ ?

Hoá thân trong cấu trúc huyền ảo vật chất

Nếu Hương thơm thâu lượm những chữ trên đường hương, mộng ngát, thì Mật đắng, Máu cuồng và Hồn điên là thơ tuyệt vọng, hoang loạn, gắn bó với khổ đau, đen, đục của cô đơn, kinh hoàng và cõi chết.

Trong vũ trụ thứ hai này, Hàn gửi cho trăng, viết cho trăng, trăng trở thành đề tài chính: Ngủ với trăng, Say trăng, Rượt trăng, Trăng tự tử, Chơi trên trăng, Một miệng trăng… Nhưng tại sao lại trăng, mà không phải là cái gì khác?

Trăng không phải là ám ảnh của bệnh cùi như Trần Thanh Mại và một số người đã nhận định. Trăng nơi Hàn Mặc Tử có nguồn gốc sâu xa hơn, gắn bó với tuổi thơ. Con người nào cũng gắn bó với ký ức đầu đời: một đứa trẻ bị hành hạ, lớn lên có thể trở thành tội phạm; kẻ viết văn thường dựa vào ký ức tuổi thơ để xây dựng đời văn. Hàn Mặc Tử là một trường hợp sống trong tưởng tượng của ký ức, và trăng của Hàn có nguồn cội tuổi thơ: Trăng Sa Kỳ.

Nguyễn Bá Tín viết về động cát Sa Kỳ, thủa nhỏ hai anh em thường đi chơi, với một bút pháp thơ mộng: “Địa phương gọi là Động, kỳ thực là một vùng rộng lớn, cát trắng phau, thứ cát ánh ngời như mảnh vụn pha lê, chạy dài 4, 5 cây số bên bờ đại dương. (…) Vào những đêm trăng sáng thì tuyệt đẹp, nhưng huyền ảo đến rợn người như đi vào một thế giới xa lạ. Dân địa phương không dám băng ngang. Người đi chỉ còn nghe hơi thở của mình và mơ hồ se siết bước chân trên cát giữa vắng lặng hoàn toàn. Trăng bao phủ tứ phía bằng một ánh sáng lung linh chờn chợn khó phân biệt từ trên trăng toả xuống, hay từ cát trắng chiếu lên. Tơ trăng dầy đặc, mỗi cử động hay di chuyển đều như lùa cả trăng theo.”[15]

Với Hàn Mạc Tử, trăng Sa Kỳ là điểm tựa đầu tiên để xây dựng cõi hư ảo của mình. Trong bài Chơi giữa mùa trăng[16], Hàn đã ghi lại những thắc mắc của Trí về bản chất trăng và  cuộc gặp gỡ đầu tiên với trăng đã hình thành trong óc cậu bé những câu hỏi về thơ, đã manh nha một định nghĩa thơ qua trăng, bằng trăng, coi trăng như một thực thể sáng tạo:

“Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm kỳ ảo, thơm thơm, và nếu người thơ lắng nghe một cách ung dung, sẽ nhận thấy có nhiều tiếng nhạc say say gió xé rách lả tả… Và rơi đến đâu, chạm vào thứ gì là chỗ ấy, thứ ấy vang lên tuy chẳng một ai thấy rõ sức rung động. Nghiã là trăng rằm trung thu: một đêm siêu hình, vô lượng, tượng trưng của một mùa ao ước xây bằng châu lệ, làm bằng chia ly, và hơn nữa, hiện hình của một nguồn khoái lạc chê chán.”[17]

Trăng Sa kỳ, là thơ, là nhạc ở Hàn ngay từ những suy nghĩ đầu tiên của tuổi trẻ. Và khi lớn lên, trăng sẽ là chia ly, là dục lạc, là cõi siêu hình, là vô lượng, là sự rung động tận cùng trong tạo tác. Hàn viết tiếp: “Chị tôi bỗng reo to lên: Đã gần tới sông Ngân rồi! Chèo mau lên em! Ta cho thuyền đậu ở bến Hàn giang! (…) Tôi muốn hỏi xem chị tôi có thấy ngọt ngào trong cổ họng như vừa uống xong một ngụm nước lạnh, mát đến tê hết cả lưỡi và hàm răng? Chị tôi làm thinh, – mà từng lá trăng rơi lên xiêm áo như những mảnh nhạc vàng. (…) Ở chỗ nào cũng có trăng, có ánh sáng cả, tưởng chừng như bầu thế giới chở chúng tôi đây cũng đang ngập lụt trong trăng và đang trôi nổi bình bồng đến một địa cầu nào khác. Ánh sáng tràn trề, ánh sáng tràn lan, chị tôi và tôi đều ngả vạt áo ra bọc lấy, như bọc lấy đồ châu báu (…) “A ha, chị Lễ ơi! chị là trăng mà em đây cũng là trăng nữa!” Ngó lại chị tôi và tôi thì quả là trăng thiệt”.[18]

Chơi giữa mùa trăng là một bài thơ văn xuôi lạ lùng trong đó Hàn Mặc Tử giải thích nguồn cội thi ca ở Hàn và kể lại sự tan biến của hình hài trong trăng và sự hoá thân của trăng thành nước, thành thơ, trong một khung cảnh thần tiên: Hai chị em đi thuyền trên sông, dưới ánh trăng, nhưng tất cả đã bị ảo hoá, tất cả là mơ, là thơ, là họa, là nhạc. Dòng sông của họ ở trên trời hay dưới đất? Bến mà họ ghé là bến Hàn giang hay bến Ngân hà? Ánh sáng của họ là sáng trăng hay là một thứ ánh sáng huyền diệu toả ra từ cõi nhạc tiên, trên thiên đàng, vô chung vô thỉ? Và có lẽ từ khi ấy, từ những cuộc đi chơi dưới trăng Sa kỳ thủa ấy, mà nguồn thơ Hàn luôn luôn bị quyến dụ bởi tầng cao: Gió nâng khúc hát lên cao vút / Vần thơ uốn éo lách rừng mây (Ngủ với trăng). Đó là “lý thuyết thơ” trong vũ trụ mới của Hàn Mặc Tử.

Trăng từ đây sẽ là nguồn sáng tạo, là ánh sáng, là màu sắc, là âm thanh, là những giấc mơ triền miên của Hàn từ những ngày thơ ấu, từ thời thanh niên đầy sinh lực chưa nhuốm nan y, cho đến khi ngã bệnh. Trong tinh thần và thể xác đớn đau điên loạn vì bệnh hủi, trăng vẫn còn đó, và trăng cũng điên dại, bệnh hoạn như Hàn. Trăng bị chia hai như tâm hồn Hàn, trong bài Say trăng có đến hai trăng: trăng tươi, trăng đẹp, trăng của những giấc mơ hạnh phúc:

Nước hoá thành trăng, trăng ra nước

Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm

Người trăng ăn vận toàn trăng cả (Say trăng)

Và trăng điên, trăng bệnh, trăng cùi của những ác mộng, trăng thổ huyết trong đêm tối:

Gió rít từng cao trăng ngã ngửa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra (Say trăng).

Từ trăng mơ đến trăng điên có một biên giới, một cái mốc, một thứ định mệnh, là nước. Nước cũng là một tác nhân quan trọng trong thơ Hàn không kém gì trăng. Hàn sinh ra và lớn lên bên bờ đại dương như trăm nghìn người Việt sống cạnh bờ biển. Việt Nam có bờ biển dài nhất Viễn đông so với diện tích đất đai. Nhưng văn thơ của chúng ta ít viết về nước. Có lẽ bởi người Việt ít mộng mơ, không thích viễn du chăng? Duy chỉ có thơ Hàn Mặc Tử là có nước, là ngập nước. Tại sao?

Vì nước cũng như trăng, là nguồn thơ ấu của Hàn. Nhưng nước đối với Hàn còn là nguồn của sợ hãi, của chết chóc. Nguyễn Bá Tín kể lại rằng Hàn Mặc Tử rất thích nước và thích tắm biển, nhưng một hôm hai anh em đang bơi, bị gió nồm thổi quá mạnh “anh Trí đuối sức gần ngất đi, phải nằm ngửa (làm planche) để cho sóng đẩy vào bờ. Trông anh sợ hãi khác thường (…) anh không còn giống anh nữa, với đôi mắt đã lạc thần. Từ đó anh không tắm biển nữa, sợ nước, ít hoạt động, nói năng nhỏ nhẹ như sợ ai nghe (…) Cả nhà đều nghi anh mắc bệnh tâm thần, hay tưởng tượng gì đó, nhưng anh vẫn bình thường, vẫn làm thơ, thức khuya để ghi chép. Nhận xét kỹ, anh có lôi thôi về ăn mặc, ít tắm giặt, phải nhắc nhở anh thay quần áo, nhưng anh thường hay quên, chẳng hạn quần áo thay ra ném bậy bạ, có khi cả tuần không tìm thấy, thì ra đã lọt xuống kẹt rương, chuột đã làm ổ”[19].

Những lời trên đây của Nguyễn Bá Tín, không những giải thích tại sao Hàn Mặc Tử sợ nước và sự sợ nước, lười tắm, sẽ dẫn đến bệnh phong sau này, nhưng còn giải thích một hiện tượng nữa: nước như một cái mốc bạo tàn và huyền diệu đã xoay chuyển, không những định mệnh của Hàn Mặc Tử mà còn xoay chuyển luôn cả tính cách thơ ca của Hàn nữa: Bệnh phong và thơ của Hàn gắn bó với nước như một căn nguyên khởi thủy của sáng tác, và nỗi sợ hãi đã theo Hàn qua tất cả các trạng thái thể xác, tâm hồn, cho đến chết.

Xin trở lại với lập thuyết của Bachelard, vì chưa bao giờ phân tâm vật chất của ông lại gần gụi với một nhà thơ như thế. Những dòng sau đây, tưởng như Bachelard viết riêng cho Hàn Mặc Tử: “Kẻ hiến mình cho nước là kẻ hôn mê. Hắn chết dần mỗi phút, chất hắn không ngừng trào ra. Cái chết mỗi ngày không phải là cái chết hoành tráng của lưỡi lửa chọc thủng trời; mà là cái chết của nước. Nước luôn luôn chảy, nước luôn luôn ngã, để kết thúc trong cái chết duỗi dài”[20]

Hàn Mặc Tử sinh ra và lớn lên bên bờ đại dương, với những bãi cát và những đêm trăng huyền ảo. Trăng và nước trở thành bản thể của Hàn, là chất cấu thành tư tưởng, cấu thành thể xác của Hàn, nhưng trăng và nước còn là hai động lực siêu hình, xây dựng nên thơ Hàn, đồng thời dẫn Hàn về cõi chết.

Khi phân tâm nước, Bachelard nhận thấy, có hai thứ nước: nước trong và nước đục, mà ông gọi là nước nhẹ (eau légère) và nước nặng (eau lourde) tương ứng với niềm vui, nỗi buồn. Nước đã đục không thể trở lại trong, mà luôn luôn chỉ có một chiều duy nhất: từ trong sang đục. Huyền thoại của nước cũng là huyền thoại của con người: đi từ những mộng mơ trong sáng thủa ban đầu “dưới dòng nước chảy trong veo” (Kiều) để đến với đớn đau chia lìa tuyệt vọng “máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao” (Kiều), như Nguyễn Du đã linh nghiệm.

Ở Hàn Mặc Tử, nước cũng đi theo hành trình như thế, nhưng nước của Hàn còn có những biến thể khác, không những chỉ từ trong sang đục, mà còn từ lỏng sang đặc: từ nước thành trăng; rồi lại từ đặc sang lỏng: từ trăng thành nước.

Sự biến thể này thấy rõ trong bài Huyền ảo. Thoạt đầu, trăng biến thành hương khói:

Từ đầu canh một đến canh tư / Tôi thấy trăng mơ biến hoá như / Hương khói ở đâu ngoài xứ mộng / Cứ là mỗi phút mỗi nên thơ.

Rồi ánh trăng lan toả ra thành những làn mỏng (như sương) che phủ mặt hồ:

Ánh trăng mỏng quá không che nổi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ

Những nét buồn buồn tơ liễu rủ

Những lời năn nỉ của hư vô.

Dần dần những làn sương trăng ấy chiếm lĩnh cả không gian, không còn là sương khói nữa, mà đã hiện nguyên hình trăng, trăng lan vào thân thể đôi tình nhân, chiếm hữu rồi “cắp” mỗi người đi một ngả:

Không gian dầy đặc toàn trăng cả

Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng

Mỗi ảnh mỗi hình thêm phiếu diễu

Nàng xa tôi quá nói nghe chăng.

Tính chất huyền ảo ở đây đến từ sự biến thể vật chất: từ trăng sang sương, từ sương trở về trăng, rồi trăng biến thành tôi và nàng. Đó là cấu trúc huyền ảo vật chất trong thơ Hàn.

Hàn Mặc Tử đi vào địa hạt huyền ảo, không từ niềm tin tôn giáo, mặc dù khi bệnh nặng, Hàn vẫn đọc kinh cầu nguyện hàng ngày. Sự huyền ảo hay thần linh trong thơ Hàn đến từ cấu trúc huyền ảo vật chất, tức là sự chuyển từ thể lỏng sang thể đặc, rồi từ đặc sang lỏng của vạn vật. Chính khả năng chuyển thể vật chất ấy đã tạo cho thơ Hàn không khí huyền ảo, ma quái, diệu kỳ, như có thần linh. Đức Mẹ Maria đối với Hàn, cũng không phải là một ý thức thần linh, cũng không phải là ý thức tôn giáo. Bà là đấng cứu khổ cứu nạn, bởi Hàn theo đạo Chúa, nên Hàn cầu Đức Mẹ, nếu Hàn theo đạo Phật, Hàn sẽ cầu Đức Quan Âm. Ở chặng cuối của tuyệt vọng, Hàn tìm đến Đức Mẹ như một cứu cánh:

Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!

Run như run thần tử thấy long nhan

Run như run hơi thở chạm tơ vàng…

Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến (…)

Phượng Trì, Phượng Trì, Phượng Trì, Phượng Trì

Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu

Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu

Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang (Ave Maria)

Những chữ Phượng Trì, Phượng Trì, thường được coi như cõi bí mật thần linh, thực ra,  nguyên do giản dị như sau: Nguyễn Bá Tín kể lại, một hôm hai anh em đi xem phim chưởng, trong phim có người anh hùng tên là Phượng Trì phi thân lên núi rồi biến mất. “Hai tiếng Phượng Trì ám ảm anh Trí một cách kỳ lạ say đắm… Anh nói: “Phượng Trì, cái tên thật là tuyệt, nghe như bay lên cao, bay lên cao! Hay quá!”[21]. Vậy Phượng Trì không phải là Thiên Đàng của Chúa cũng không phải là Giao Trì của Tây Vương Mẫu.

Thơ Hàn không nhất thiết là một niềm tin tôn giáo, mà gắn bó với chữ nghiã và không trung trong những hành trình chuyển thể của vật chất.

Máu cuồng và hồn điên

Bệnh càng nặng, nỗi đau đớn thể xác càng tăng, hình ảnh trong thơ Hàn càng héo hắt thêm, hồn phách rã rời, nước trong giờ càng đục thêm, nước cô đọng thành máu và trăng cũng trở thành máu, nước-máu dâng lên thành biển, theo nồng độ của đớn đau chết chóc:

Máu tim ta tuôn ra làm bể cả

Mà sóng lòng dồn dập như mây trôi

Sóng lòng ta tràn lan ngoài xứ lạ

Dâng cao lên, cao tột tới trên trời (Biển hồn ta).

Trong giấc mơ ma quái nhất, Hàn đã thấy: Trăng ngập đầy sông, chảy láng lai. (Cô liêu)

Tình yêu của Hàn gắn bó với thơ và máu. Tình yêu là da thịt Hàn kết hợp với huyết lệ chữ. Cho nên thơ tình của Hàn luôn luôn thoát ra ngoài cõi biết của chúng ta, của những kẻ chưa bao giờ đạt tới trạm cuối của cuộc đời. Thơ Hàn là hiện thân một tình yêu lạ lùng trên giải đất mà chúng ta đang sống. Sóng trong lòng Hàn là sóng thiên triều, kỳ vĩ như những cơn ác mộng triều thiên:

Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết

Khi say sưa với lượn sóng triền miên

Khi nhận lấy trong thân tâm cay nghiệt

Giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng (Biển hồn ta).

Bệnh trọng, người tình xa lánh dần, tất cả đã bỏ Hàn. Mỗi chữ trong thơ trở thành giọt mật đắng. Thơ nở trong xúc cảm điên cuồng, ngây dại, tuyệt vọng:

Nghe gió là ôm ngang lấy gió

Tưởng chừng như trong đó có hương

Của người mình nhớ mình thương

Nào hay gió tạt chả vương vấn gì

Nhớ lắm lúc như si như dại

Nhớ làm sao bải hoải chân tay. (Muôn năm sầu thảm).

Những kẻ đã yêu và đã bỏ Hàn không chỉ là phụ nữ, không chỉ là bạn bè, không chỉ là người thân, mà còn là tất cả tình đời đen bạc, tất cả đã bỏ Hàn. Trong không gian hiu quạnh ấy: Trăng choáng váng với hoa tàn cùng ngã (Hãy nhập hồn em), Hàn rơi trong trời sâu, thơ Hàn nhỏ xuống thành những giọt huyết lệ:

Họ đã xa rồi khôn nứu lại

Lòng thương chưa đã, nếm chưa bưa…

Người đi, một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu (Những giọt lệ).

Mỗi chữ là một giọt lệ của cánh phượng nở trong màu huyết. Tất cả trở thành máu huyết. Ở đây, sự rùng rợn đến từ sự chuyển thể từ nước thành tuyết, từ tuyết thành máu, và mê sảng bay lên đến tầng cao của cung Hằng:

Lụa trời ai dệt với ai căng

Ai thả chim bay đến Quảng Hàn

Và ai gánh máu đi trên tuyết

Mảnh áo da cừu ngắm nở nang (Cuối thu).

Nước trong buổi thanh xuân nay đã đông đặc lại. Thẫm lại thành máu. Thơ tình của Hàn là những lời tình đau thương nhất trong thi ca Việt nam, bởi nó gói trọn cả không gian, cả thiên nhiên vạn vật trong đau khổ, liệm cả cõi thơ, cả linh hồn, vào một vùng không gian xuất huyết, chết theo với bóng tà ác lặn. Không chỉ có một người thơ đau khổ, không chỉ có một người thơ tan nát cõi lòng, mà cả đến thơ cũng cháy tan, cả đến tiếng, đến lời cũng thoi thóp trên không trung, cả ý, cả nhớ… tất cả đều tan tác dẫy chết trong vũng máu hoàng hôn của cuộc đời và của vũ trụ:

Lá trên cành héo hắt, gió ngừng ru

Một khối tình nức nở giữa âm u

Một hồn đau rã lần theo hương khói

Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi

Một lời run hoi hóp giữa không trung

Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng

Hoá thành vũng máu đào trong ác lặn (Trường tương tư).

Nước máu bây giờ tràn ngập thơ như thể khí trời dần dần đông lại trong phổi, khiến Hàn càng ngày càng nghẹt thở. Thân thể bị tàn phá bởi sự biến đổi từ lỏng sang đặc của tất cả những chất sống trong người. Trong Hàn, bắt đầu nhú lên những hạt mầm của tuyền đài và từ đây những giấc mộng của Hàn sẽ vượt biên thùy cõi sống để sang thế giới bên kia. Từ nay, cho tới lúc mất, Hàn đi chơi với hồn. Hồn trở thành bạn, và trong những cơn chết đi sống lại của bệnh cùi, Hàn xem Hồn như một người bạn mới, một người lạ mới gặp lần đầu:

Hồn là ai? là ai? tôi chẳng biết

Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi

Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười

Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng… (Hồn là ai).

Chưa bao giờ trong thi ca có sự phân thân rõ ràng như thế: một người chia hai thành xác và hồn. Chưa một nhà thơ nào đã ghi lại những giây phút kinh hoàng như Hàn: những giây phút hồn lìa khỏi xác để đi chơi riêng, như hai kẻ cô đơn, rồi khi cơn điên nổi lên, án mạng xẩy ra, xác đã giết chết hồn trong cơn đau cực độ:

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm

Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực (Hồn là ai).

Toàn bộ thơ Hàn là sự chuyển thể vật chất và siêu hình: trăng thành nước, nước thành thơ, thơ thành máu, máu thành thơ, hồn thành xác, xác thành hồn… Những cõi mộng mà Hàn tạo ra, chính là sự thành thân giữa nước và trăng trong một hồn thơ kỳ vĩ, đau thương tột độ trong xác, trong hồn, dùng bàn tay phù thủy luyện kim chữ, để viết lại hành trình về cõi chết của mình:

Thịt da tôi sượng sần và tê điếng

Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên, (Hồn là ai).

Không chỉ một lần Hàn trộn máu trong thơ: Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt (Rướm máu), mà biết bao lần, mỗi lần là một tuyệt bút, là một đớn đau đến chết:

Lời thơ ngậm cứng không rền rĩ

Mà máu tim anh vọt láng lai (Lưu luyến).

Ở giây phút hấp hối, biết bao người đã thầm đặt những câu hỏi như Hàn, nhưng có ai viết ra được? Hiện tượng mặt trời hoá lỏng thành máu, chính là hiện tượng con người sắp lìa đời:

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tợ si? (Những giọt lệ).

Người con trai, chưa từng biết lạc thú cuộc đời, đã bị xé tan tành thân xác ấy, bèn trộn trạo các tinh chất trong người mình thành một thứ bột màu, thành một thứ mực thơm, thành một thứ tinh anh kinh dị của thi ca:

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút

Mỗi lời thơ đều dính não cân ta

Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt

Cho mê man chết điếng cả làn da

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh

Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết

Cả lòng ai trong mớ chữ rung rinh. (Rướm máu).

Khi những cơn điên dâng lên, cả hồn lẫn xác đều lâm trận trong cuộc chiến với cô đơn, cái chết, mà âm hưởng vang lên đến thượng từng:

Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ

Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng

Rung tầng không khí, bạt vi lô.(Cô liêu)

Cuối cùng, rồi hồn và xác rời nhau, mỗi “kẻ” một nơi, để sống trọn niềm cô liêu tuyệt đối của mình cho đến “chết”, cái chết có từ vạn kỷ:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?

Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng

Không nói không rằng nín cả hơi!

Chao ôi! ghê quá trong tư tưởng

Một vũng cô liêu cũ vạn đời. (Cô liêu)

Tất cả đều phát triển một cách tiệm tiến, từ cái điên đến cái chết, và lúc nào nước cũng có mặt, bởi chết là về với nước, về với thủy cung. Tất cả đều đi theo hành trình định mệnh: từ tầng cao, là trăng để xuống với nước. Ở những hơi thở cuối:

Ta trút linh hồn giữa lúc đây

Gió sầu vô hạn nuối trong cây (Trút linh hồn)

Tất cả trở lại trạng thái khô ráo thủa đầu, người thơ đã đi trọn hành trình: trăng thành nước, nước thành máu, máu thành thơ:

Máu đã khô rồi thơ cũng khô

Tình ta chết yểu tự bao giờ

Từ nay trong gió – trong mây gió

Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ (Trút linh hồn).

Tất cả đã khô, đã biến, để lại những lời, những chữ, những dòng tuyệt bút của thi ca, bay rền trong không gian vô định.

Thụy Khuê

Paris 1/2009 – 12/2012

[1] Thiện Nam Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử, anh tôi, nxb Tin, Paris, 1990, trang 64.

[2] Theo Hoàng Diệp trong bài Vụ kiện trích thơ Hàn Mặc Tử, in trong Hàn Mặc Tử hôm qua và hôm nay, Vương Trí Nhàn sưu tầm, nxb Hội Nhà Văn, 1995, trang 485)

[3] Tức Nguyễn Bá Hiếu, người em út.

[4] Hàn Mặc Tử, anh tôi, nxb Tin, Paris, 1990, trang 64.

[5] Hoàng Diệp, bđd.

[6] Hoàng Diệp, bđd.

[7] An Tiêm tái bản tại Sài Gòn 1969.

[8] Nguyễn Hữu Tấn Đức và Phạm Đán Bình, trong cuốn Hàn Mặc Tử anh tôi (nxb Tin, trang 148) đã chụp lại báo Thực Nghiệp, 1931, mà chúng ta có được văn bản  đầu tiên của ba bài thơ Hàn Mạc Tử. Những bản in sau, người ta đã sửa lại, đầu tiên là bản Quách Tấn và Chế Lan Viên sưu tầm, in năm 1942. Chế là đàn em và khâm phục Hàn, chắc không dám sửa. Riêng Quách Tấn, thơ cổ điển, chữ cầu kỳ, lại tự cho mình là đàn anh, và theo Nguyễn Bá Tín: “Anh Tấn còn nói là thơ anh Trí không phải bài nào cũng hay đâu, mà cần phải sửa lại mới in được” (Hàn Mặc Tử anh tôi, trang 65). Vậy rất có thể những chữ: xác Phật và rờ rẫm đã bị Quách Tấn sửa thành cốt Phật và sờ sẫm.

[9] Xin lược ghi về vấn đề nguồn cội của Thơ Mới. Ngày 11/10/1931, ba bài thơ: Chùa hoang, Gái ở chùa và Thức khuya, của HMT xuất hiện. Đến 10/3/1932, Phan Khôi trình làng Tình già, được coi là bài Thơ Mới đầu tiên của thi ca Việt Nam trên Phụ Nữ Tân Văn, có những câu:”Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng/ Mà lấy nhau hẳn là không đặng /Để đến nỗi, tình trước phụ sau /Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau”. Tình già của Phan Khôi là cái mốc lịch sử về sự thay đổi hình thức thơ hơn là một giá trị thi ca. Trái lại, về mặt nghệ thuật và tư tưởng, hai câu Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối / Gió thu lọt cửa cọ mài chăn, của Hàn Mặc Tử đã đưa thi ca Việt Nam vào giai đoạn mới, thoát khỏi vòng lễ giáo cổ truyền để nói đến thân xác như một thực thể thơ; và cấu trúc mở vào không gian, một điểm mới nữa, chúng tôi sẽ giải thích ở những đoạn sau.

[10] Vũ Ngọc Phan viết: “Cũng như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử là một thi sĩ luôn luôn ca ngợi ái tình, nhưng cái quan niệm về tình yêu của của Hàn Mạc Tử không được thanh cao như của Thế Lữ. Cái tình yêu của Hàn Mặc Tử tuy diễn ra trong tập Gái quê còn ngập ngừng… nhưng đã bắt đầu  nghiêng về xác thịt:

…Ống quần vo xắn lên đầu gối,

Da thịt trời ơi! trắng rợn mình…. (…)

Đến bài Hát giã gạo (Gái quê, trang 31) của ông thì lời suồng sã quá, thứ tình yêu ở đây đặc vật chất, làm cho người ta phải lợm giọng” (Nhà Văn hiện đại, trang 762-763). Chẳng biết trong bài Hát giã gạo, Hàn viết gì mà bị nhà phê bình họ Vũ chê là “lợm giọng”, đến nỗi trong các bản in sau đã bị cắt hẳn!

Hoài Thanh phê bình Gái quê như sau: “Gái quê- Nhiều bài có thể là của ai cũng được. Còn thì tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị. Nhưng tình ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi” (Thi nhân Việt Nam, trang 205-206). Tóm lại cả hai nhà phê bình lớn thời tiền chiến đều có vẻ không được phóng khoáng bằng cụ Phan Bội Châu, người không những đã đăng ba bài thơ đầu tiên có tính “xác thịt” của Hàn một cách thú vị mà còn làm thơ vịnh lại và gọi Hàn Mặc Tử, lúc đó mới 19 tuổi, là “tiên sinh”.

[11] Dù trên thực tế khoa học, trăng có di chuyển, nhưng mắt thường không thể thấy được.

[12] Dĩ nhiên là nhà văn nào cũng cần tượng tượng để sáng tác, nhưng óc tưởng tượng trong văn học cổ điển bị giới hạn trong lô-gích thực tế: trừ những truyện thần thoại hoang đường, bạn không thể “tưởng tượng” ra một thực thể đầu người mình thú như trong tranh siêu thực sau này.

[13] Bởi bản tuyên ngôn siêu thực ra đời năm 1925 và khi phong trào siêu thực đến Việt Nam thì Hàn đã qua đời.

[14] Thế Lữ tạo ra một thứ âm nhạc mới, không giống nhịp điệu thơ lục bát, thất ngôn hay thất ngôn bát cú.

[15] Thiện Nam Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử anh tôi, nxb Tin, Paris 1991, trang 19)

[16] Có thể coi là bản tuyên ngôn thơ của Hàn Mạc Tử.

[17] Chơi giữa mùa trăng, Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, trang 9-10.

[18] Chơi giữa mùa trăng, sđd, trang12-16)

[19] Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử anh tôi, trang 20-21.

[20] Nguyên văn: “L’être voué à l’eau est un être en vertige. Il meurt à chaque minute, sans cesse quelque chose de sa substance s’écoule. La mort quotidienne n’est pas la mort exubérante du feu qui perce le ciel de ses flèches ; la mort quotidienne est la mort de l’eau. L’eau coule toujours, l’eau tombe toujours, elle finit toujours en sa mort horizontale” [L’eau et les Rêves (Nước và Mơ), Biblio Essais, trang 13)].

[21] Nguyễn Bá Tín, sđd, trang 79.

Có rất nhiều rào càn để thay đổi suy nghĩ của bạn: cái tôi, sự tự tin thái quá, quán tính – và chi phí. Các chính trị gia lật lọng bị chế giễu; gia đình và bạn bè vượt qua biên giới bộ lạc bị xa lánh. Nhưng chúng ta có nên khuyến khích mọi người thay đổi suy nghĩ của họ không? Và làm thế nào chúng ta có thể tự cải thiện nó?

Đâylà một sự thật thú vị: các nhà lập pháp ở một số quốc gia do đảng Cộng hòa kiểm soát đang nỗ lực để loại bỏ án tử hình. Tại sao điều đó thú vị? Bởi vì hầu hết những người Cộng hòa thường ủng hộ án tử hình. Họ đã nói rằng đó là một biện pháp ngăn chặn các tội ác khủng khiếp nhất và một hình phạt phù hợp khi những tội ác đó xảy ra.

Nhưng rất nhiều người Cộng hòa đã tin rằng án tử hình không ngăn chặn tội phạm – đó là một lập luận mà chúng tôi đưa ra bằng chứng cho Freakonomics . Họ cũng nói rằng các kháng cáo pháp lý kéo dài đối với các trường hợp tử hình là quá tốn kém cho người nộp thuế. Một số đảng Cộng hòa cũng trích dẫn mối quan tâm đạo đức với án tử hình. Vì vậy, rất nhiều người trong số họ đã thay đổi suy nghĩ của họ.

Tất cả chúng ta đã thay đổi suy nghĩ của chúng ta tại một số điểm, về một cái gì đó. Có thể bạn là một người mèo và trở thành một người chó. Có thể bạn đã quyết định nơi bạn sống, hoặc người bạn yêu, hoặc tôn giáo bạn theo chỉ không còn làm việc cho bạn nữa. Nhưng thay đổi tâm trí của bạn hiếm khi dễ dàng. Mặc dù nếu bạn giống như hầu hết mọi người, bạn sẽ rất thích người khác thay đổi suy nghĩ của họ, để suy nghĩ giống bạn hơn. Bởi vì, như bạn thấy, thế giới không thể tiến bộ, để cải thiện trừ khi một số người sẵn sàng thay đổi suy nghĩ của họ.

Trong tập phát sóng Freakonomics tuần này : làm thế nào để thay đổi suy nghĩ, hoặc ít nhất là cố gắng.


Robert Sapolsky là giáo sư khoa học thần kinh tại Đại học Stanford. Ông mô tả mình là một nhà sinh học thần kinh và nửa nguyên thủy; ông nghiên cứu cả tế bào thần kinh trong các đĩa petri và khỉ đầu chó hoang ở Đông Phi. Sapolsky có nhiều kinh nghiệm với việc thay đổi suy nghĩ của mình. Anh ta được nuôi dưỡng như một người Do Thái chính thống trước khi anh ta quyết định, vào năm 14 tuổi, đó là Chúa, không có ý chí tự do, không có mục đích. sau đó anh kết hôn với một người hâm mộ nhạc kịch và đạo diễn. Ngày nay, anh thường phục vụ với tư cách là nghệ sĩ piano tập dượt cho các sản phẩm của vợ.

Sapolsky đã nhận thấy điều gì đó về việc thay đổi tâm trí: dễ dàng hơn khi bạn còn trẻ. Trong một cuộc khảo sát, ông đã cùng nhau xem xét sở thích của mọi người về thực phẩm, âm nhạc, v.v., Sapolsky nhận thấy rằng mọi người thực sự trở nên ít cởi mở hơn với sự mới lạ khi họ già đi. Một người không ăn sushi ở tuổi 35 chẳng hạn, có khả năng sẽ không bao giờ ăn. Ông cũng nhận thấy rằng con người không phải là động vật duy nhất thể hiện mô hình hành vi này.

Tiết [Y] ou lấy một con chuột trong phòng thí nghiệm và bạn nhìn vào khi nào trong đời nó sẵn sàng thử một loại thức ăn mới lạ – và đó là đường cong chính xác! Một con chuột tương đương với những con chuột thí nghiệm 10 tuổi ghét bông cải xanh nhiều như con người 10 tuổi làm. Ở tuổi vị thành niên, tuổi trưởng thành sớm, có một sự thèm muốn đột ngột về tính mới lạ Và sau đó, khi bạn là một con chuột trưởng thành trung niên, bạn sẽ không bao giờ thử bất cứ điều gì mới cho đến hết đời.

Có rất nhiều lý do tại sao có thể dễ dàng thay đổi suy nghĩ của bạn khi bạn còn trẻ. Đó có thể là thực tế rằng bộ não của bạn chỉ đơn giản là dẻo hơn – điều mà các nhà khoa học giả định trong một thời gian dài nhưng bây giờ bắt đầu đặt câu hỏi . Hoặc có thể là vị trí của bạn ít cố thủ hơn, vì vậy sẽ ít tốn kém hơn khi thay đổi chúng.

Hoặc có thể là các cổ phần thấp hơn: số phận của thế giới không xoay quanh việc bạn ủng hộ bông cải xanh hay chống bông cải xanh. Nhưng khi cuộc sống tiếp diễn, khi các cổ phần tăng lên, việc thay đổi tâm trí của bạn có thể trở nên tốn kém hơn.

Vài năm trước khi Hoa Kỳ xâm chiếm Iraq, nhà khoa học chính trị Francis Fukuyama , đã ký vào một lá thư ủng hộ một động thái như vậy. Vào thời điểm đó, Fukuyama được thành lập như một nhà tư tưởng chính trị nổi bật. Ngoài việc viết một cuốn sách mang tính bước ngoặt , ông còn thực hiện hai phần trong Bộ Ngoại giao. Vì vậy, quan điểm của ông về Chiến tranh Iraq đã được thực hiện nghiêm túc.

Nhưng khi cuộc xâm lược đã đến gần, Fukuyama bắt đầu có những suy nghĩ thứ hai.

Mối quan tâm chính của tôi là liệu Hoa Kỳ có sẵn sàng ở lại Iraq và chuyển đổi nó thành một loại đất nước ổn định, ổn định hay không, theo ông Fuk Fukuyama. Ngay cả tôi cũng ngạc nhiên về kế hoạch tồi tệ như thế nào, và những giả định sai lầm như thế nào, rằng chúng ta sẽ được chào đón như những người giải phóng và rằng sẽ có một sự chuyển đổi nhanh chóng giống như ở Đông Âu sang một thứ giống như dân chủ. Giáo dục

Vào tháng 2 năm 2004, Fukuyama đã tham dự một bữa ăn tối tại Viện Doanh nghiệp Mỹ, một nhóm chuyên gia tư tưởng bảo thủ ở Washington, DC Diễn giả nổi bật là Dick Cheney. Đám đông chào đón phó tổng thống khi đó bằng một tràng pháo tay lớn.

Tôi chỉ nhìn xung quanh những người ở bàn của mình và tôi nói, ‘Tại sao những người này lại vỗ tay?’, Ông Fuk Fukuyama nói. Vì rõ ràng điều này đang biến thành một thất bại lớn. Và đó là khoảnh khắc mà tôi quyết định, bạn biết đấy, những người này thực sự là dở hơi. Ý tôi là, họ đã đầu tư rất nhiều vào việc coi đây là một thành công mà họ không thể thấy thực tế này đang phát triển ngay trước mắt họ.

Fukuyama đã phải trả giá đắt cho sự thay đổi của mình trong Chiến tranh Iraq. Ông được coi là đã từ bỏ phong trào tân cổ điển và mất đi những người bạn thân trong quá trình này. Nhưng cho đến ngày nay, ông ngạc nhiên khi rất ít người ủng hộ cuộc chiến vẫn không sẵn lòng thừa nhận đó là một sai lầm.


Tđây là một yếu tố có thể góp phần vào sự miễn cưỡng của chúng tôi để thay đổi suy nghĩ của chúng tôi: quá tự tin – niềm tin của chúng ta rằng chúng ta là đúng, ngay cả trong trường hợp không có chứng cứ. Bao nhiêu sự tự tin không học được đang trôi nổi ngoài kia?

Hãy xem xét một nghiên cứu gần đây của Julia Shvets , một nhà kinh tế tại Christ’s College, Cambridge, người nghiên cứu về việc ra quyết định. Cô và một số đồng nghiệp đã khảo sát hơn 200 quản lý tại một chuỗi nhà hàng Anh. Các nhà quản lý trung bình hơn hai năm trong công việc và tiền lương của họ được gắn chặt với phần thưởng hiệu suất hàng quý. Các nhà quản lý được yêu cầu nhớ lại hiệu suất trong quá khứ của họ và dự đoán hiệu suất trong tương lai của họ.

Shvets nhận thấy rằng chỉ có khoảng 35% người quản lý có thể nói chính xác liệu họ có nằm trong top 20% của tất cả các nhà quản lý hay 20% dưới cùng hay 20% khác ở đâu đó ở giữa. Bốn mươi bảy phần trăm các nhà quản lý đã quá tự tin về vị thế của họ.

Và đây là những người có phản hồi chi tiết về hiệu suất của họ mỗi quý, nhiều hơn hầu hết các nhân viên nhận được. Làm sao chuyện này có thể? Đây là nơi trí nhớ phát huy tác dụng, hoặc có thể bạn gọi đó là sự lạc quan – hay ảo tưởng.

Những người đã làm tồi tệ hơn trong cuộc thi trước có xu hướng nhớ kết quả tốt hơn một chút. Mọi người dường như đang phóng đại hiệu suất trong quá khứ của chính họ trong đầu khi màn trình diễn này tệ, ông Shvets giải thích. Vì vậy, những gì chúng tôi kết luận từ điều này là mọi người, khi được cung cấp thông tin về hiệu suất trong quá khứ của họ, sử dụng bộ nhớ một cách có chọn lọc. Họ nhớ kết quả tốt và họ có xu hướng quên đi những kết quả xấu.

Vì vậy, có lẽ không nhiều đến nỗi mọi người từ chối thay đổi suy nghĩ của họ – hoặc từ chối cập nhật các linh mục của họ, như các nhà kinh tế muốn nói. Có lẽ họ chỉ có những ký ức tự chọn lọc.


Vì vậy,có rất nhiều lý do tại sao một người nhất định có thể miễn cưỡng thay đổi suy nghĩ của họ về một điều nhất định. Bộ nhớ chọn lọc, quá tự tin hoặc chi phí mất gia đình hoặc bạn bè. Nhưng hãy nói rằng bạn vẫn cam kết thay đổi suy nghĩ – của chính bạn hoặc của người khác. Làm thế nào để bạn hoàn thành nó? Bí mật có thể không nằm trong một khung lý thuyết lớn, mà trong các vật thể nhỏ, trần tục như nhà vệ sinh, khóa kéo và bút bi.

Steven Sloman , một giáo sư tâm lý học tại Brown, đã thực hiện một thí nghiệm yêu cầu mọi người giải thích – không phải lý do, mà là thực sự giải thích, ở cấp độ hạt dẻ – cách thức hoạt động của một cái gì đó.

Rất có thể, bạn có thể không thể giải thích rất rõ làm thế nào một nhà vệ sinh hoặc dây kéo hoặc bút bi hoạt động. Nhưng, trước khi bạn được hỏi câu hỏi, bạn sẽ nghĩ rằng bạn có thể. Khoảng cách giữa những gì bạn biết và những gì bạn nghĩ rằng bạn biết được gọi là ảo giác về độ sâu giải thích. Đây là lần đầu tiên được chứng minh bởi các nhà tâm lý học Leonid Rozenblit và Frank Keil.

Eople [P] eople thất bại trong việc phân biệt những gì họ biết với những gì người khác biết, Lau Sloman nói. Chúng tôi liên tục phụ thuộc vào người khác và quá trình xử lý thực tế diễn ra được phân phối giữa những người trong cộng đồng của chúng tôi.

Nói cách khác, ai đó biết làm thế nào một nhà vệ sinh hoạt động: thợ sửa ống nước. Và bạn biết thợ sửa ống nước; hoặc, ngay cả khi bạn không biết thợ sửa ống nước, bạn vẫn biết cách tìm thợ sửa ống nước.

Bạn có thể thấy ảo ảnh về chiều sâu giải thích có thể hữu ích như thế nào trong một số tình huống: bạn không cần phải biết mọi thứ cho mình, miễn là bạn biết ai đó biết ai đó biết điều gì đó. Nhưng bạn cũng có thể tưởng tượng các kịch bản trong đó ảo ảnh có thể có vấn đề, chẳng hạn như trong lĩnh vực chính trị.

Sloman và cộng tác viên Philip Fernbach về cơ bản đã lặp lại thí nghiệm Rozenblit và Keil, nhưng thay vì nhà vệ sinh và khóa kéo, họ đã hỏi mọi người về thay đổi khí hậu và kiểm soát súng. Không có gì đáng ngạc nhiên, hầu hết mọi người không thể giải thích các chính sách biến đổi khí hậu một cách chi tiết. Nhưng đây là điều thú vị: mức độ tin tưởng của mọi người đối với sự hiểu biết của họ về các vấn đề – mà những người tham gia được yêu cầu báo cáo khi bắt đầu thử nghiệm – đã giảm đáng kể sau khi họ thử và thất bại, để chứng minh sự hiểu biết của họ.

Voi Nó làm giảm sự cực đoan của niềm tin rằng họ đã đúng, leo Sloman nói. Nói cách khác, yêu cầu mọi người giải thích nhóm khử cực .


Matthew Jackson , một nhà kinh tế tại Stanford, người nghiên cứu các mạng xã hội và kinh tế, từng tin rằng những người khác nhau, đưa ra cùng một loại thông tin, sẽ đưa ra quyết định theo cùng một cách, bất kể kinh nghiệm và ảnh hưởng trong quá khứ.

Tuy nhiên, đó không phải là những gì nghiên cứu của Jackson cho thấy. Trong một thí nghiệm, Jackson đã có một loạt các đối tượng nghiên cứu đọc cùng một loạt bài tóm tắt từ các bài báo khoa học về biến đổi khí hậu. Ông thấy rằng những người đọc cùng một bài báo có thể diễn giải các bài viết rất khác nhau, tùy thuộc vào vị trí ban đầu của họ.

Trong thực tế, thông tin, xa là một giải pháp, thực sự có thể được vũ khí hóa.

Có một nhóm khoảng một phần tư đến một phần ba đối tượng thực sự trở nên phân cực hơn, họ giải thích thông tin theo hướng của các linh mục của họ, và thực sự đã kết thúc với những vị trí cực đoan hơn sau thí nghiệm so với trước đây, ông Jackson Jackson nói .

Nói cách khác, các linh mục của một người – được hình thành bởi những kinh nghiệm, ảnh hưởng và mạng xã hội trước đây – đóng một vai trò lớn trong việc hình thành niềm tin hiện tại và quá trình ra quyết định. Steven Sloman, giáo sư Brown, cho rằng yếu tố thứ ba đặc biệt quan trọng.

Tiết [W] e tin những gì chúng tôi làm bởi vì những người xung quanh chúng tôi tin những gì họ làm, Lau Sloman nói. Đây là cách mà loài người phát triển. Chúng tôi phụ thuộc vào người khác.

Vì vậy, nếu niềm tin của chúng ta được định hình bởi những người xung quanh chúng ta, một liều thuốc giải độc cho suy nghĩ không linh hoạt chỉ đơn giản là sự cân bằng. Thật không may, rất nhiều người trong chúng ta khá tệ trong việc tạo ra các mạng lưới đa dạng, cân bằng. Mọi người có xu hướng xung quanh mình với những người giống như họ.

Cuối cùng, chúng tôi nói chuyện với mọi người, những người có kinh nghiệm trong quá khứ rất giống nhau và quan điểm tương tự về thế giới, và chúng tôi có xu hướng đánh giá thấp điều đó, Matthew Matthew Jackson nói. Người dân không nhận ra thế giới của họ bị cô lập như thế nào. Bạn biết đấy, mọi người thức dậy sau một cuộc bầu cử và khá ngạc nhiên rằng bất kỳ ai cũng có thể bầu một ứng cử viên có quan điểm khác với họ.

Bạn có thể tìm thấy toàn bộ tập Freakonomics Radio , Cách làm thế nào để thay đổi suy nghĩ của bạn tại Freakonomics.com . Bạn cũng có thể nghe trên Stitcher , Apple Podcasts hoặc bất kỳ nền tảng podcast nào khác.

Bất cứ điều gì chúng ta gieo vào tiềm thức và nuôi dưỡng bằng sự lặp lại và cảm xúc một ngày nào đó sẽ trở thành hiện thực – Earl Nightingale

Tâm trí tiềm thức của bạn có sức mạnh to lớn trong việc kiếm soát trải nghiệm cuộc sống của bạn – từ các loại thực phẩm bạn ăn đến các hành động bạn thực hiện mỗi ngày, mức thu nhập bạn kiếm được và thậm chí cả cách bạn phản ứng với tình huống căng thẳng.

Mỗi bit của nó được hướng dẫn bởi niềm tin và diễn giải tiềm thức của bạn

Nói tóm lại, tiềm thức của bạn giống như tính năng tự động điều khiển trên máy bay. Nó đã được lập trình sẵn để đi theo tuyến đường cụ thể và bạn không thể đi chệch khỏi tuyến đường đó trừ khi bạn thay đổi hướng được lập trình vào tuyến đường đầu tiên.

Tâm trí tiềm thức là gì ?

Tiềm thức của con người là một phần của tâm trí được hoạt động dưới mức thức tỉnh bình thường của bạn.

Ngay bây giờ bạn chủ yếu sử dụng trí óc có ý thức của mình để đọc những từ này và tiếp thu ý nghĩa của chúng, nhưng bên dưới sự tập trung tinh thần đó, tiềm thức của bạn đang bận rộn làm việc đằng sau hậu trường, tiếp thu hoặc từ chối thông tin dựa trên nhận thức hiện có về thế giới xung quanh của bạn.

Nhận thức hiện có này bắt đầu hình thành khi bạn còn là một đứa trẻ sơ sinh.

Với mỗi trải nghiệm, tiềm thức của bạn thấm đẫm thông tin như một miếng bọt biển.

Nó không từ chối điều gì khi bạn còn trẻ bởi vì bạn không có bất kỳ niềm tin nào tồn tại trước những mâu thuẫn mà tiềm thức cảm nhận được. Nó chỉ đơn giản chấp nhận rằng tất cả các thông tin bạn nhận được trong thời thơ ấu của bạn là đúng sự thật.

Bạn có thể thấy tại sao điều này trở thành một vấn đề sau này trong cuộc sống. Mỗi khi ai đó gọi bạn là ngu ngốc, vô dụng, chậm chạp, lười biếng hoặc tệ hơn, tiềm thức của bạn chỉ lưu trữ thông tin đi để tham khảo.

Bạn cũng có thể đã nhận được tin nhắn về tiềm năng của mình trong cuộc sống hoặc những hạn chế bạn sẽ gặp phải dựa trên khả năng thể chất, màu da, giới tính, hoặc tình trạng kinh tế của bạn.

Khi bạn 7 hoặc 8 tuổi, bạn đã có một nền tảng niềm tin vững chắc dựa trên tất cả những gì lập trình từ những người trong cuộc sống của bạn, chương trình truyền hình bạn đã xem và các môi trường khác.

Chương trình ‘Cũ’ này ảnh hưởng đến bạn như thế nào bây giờ?

Bây giờ bạn đã trưởng thành, bạn có thể nghĩ rằng bạn chỉ có thể loại bỏ những tin nhắn gây tổn thương hoặc không đúng sự thật mà bạn đã hấp thụ trong suốt cuộc đời đầu đời, nhưng nó không hoàn toàn đơn giản.

Hãy nhớ rằng tất cả các thông tin này được lưu trữ dưới mức nhận thức có ý thức của bạn. Lần duy nhất bạn nhận thức được điều đó là khi nó giới hạn tiến bộ của bạn trong việc tạo ra một cuộc sống cân bằng, thành công và hiệu quả.

Bạn đã bao giờ cố gắng để đạt được một mục tiêu và tiếp tục phá hoại bản thân ở mỗi lượt? Maddening, phải không? Điều quan trọng cần biết là bạn không khiếm khuyết hoặc cam chịu thất bại cho dù bạn làm gì.

Nhiều khả năng bạn đã nhận được một số tin nhắn được lập trình cũ liên quan đến các điều kiện mới mà bạn muốn tạo.

Đây là tin tuyệt vời bởi vì nó có nghĩa là,

bạn có thể đạt được bất cứ điều gì nếu bạn dành thời gian để lập trình lại tiềm thức của mình!

Trước khi chúng tôi khám phá cách lập trình lại tiềm thức của bạn, điều quan trọng là phải biết rằng,

chương trình vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.

Với mỗi kinh nghiệm bạn có, bạn rút ra một số kết luận nhất định và lưu trữ các thông điệp sẽ hướng dẫn hành động trong tương lai của bạn.

Ví dụ, loại tin nhắn nào bạn nghĩ sẽ được lưu trữ nếu bạn bị từ chối bởi người mà bạn quan tâm?

Tâm trí tiềm thức của bạn – thám tử thông minh đó – sẽ ngay lập tức săn lùng ký ức của bạn và ví dụ khác về sự từ chối – như lần đó người bạn thân nhất của bạn đã bỏ rơi bạn để đi chơi với những đứa trẻ nổi tiếng hơn – và đưa ra một kết luận rằng bạn không xứng đáng không đáng tin và đáng bị từ chối.

Bây giờ, đây là điều thú vị,

nếu bạn có một trải nghiệm phù hợp với niềm tin đã được thiết lập, tiềm thức của bạn sẽ từ chối nó hoặc điều chỉnh lại nó để nó đi cùng với quan điểm hiện thực của bạn.

Đây là một ví dụ,

giả sử bạn có một niềm tin tiềm ẩn rằng bạn không hấp dẫn và một người hấp dẫn thể hiện sự quan tâm đến việc tìm hiểu bạn nhiều hơn.

Rất có thể điều đầu tiên bạn sẽ nghĩ là nó phải là một trò đùa hoặc một trò lừa bịp tàn nhẫn. Bạn sẽ không tin rằng người này có thể hấp dẫn bạn bởi vì bạn đã tin rằng bạn không hấp dẫn.

Bên dưới bề mặt nhận thức có ý thức của bạn, tiềm thức của bạn đang gào thét, không có cách nào! Người này quá hấp dẫn để quan tâm đến tôi, có gì đó không ổn ở đây

Sau đó, bạn sẽ từ chối người đó trước khi họ có thể từ chối bạn, hoặc nói cách khác là phá hoại những gì có thể là một mối quan hệ tuyệt vời.

Điều tương tự xảy ra khi bạn đấu tranh để đạt được mục tiêu của mình. Cuối cùng, bạn bắt đầu tin rằng bạn không có khả năng thành công, vì vậy bạn mong đợi thất bại và cuối cùng lại làm điều đó nhiều lần.

Bạn có thể có thể tưởng tượng nhiều tình huống khác trong đó tiềm thức của bạn giới hạn bạn, nhưng lập trình lại nó là một vấn đề đơn giản nếu bạn biết cách.

Làm thế nào để lập trình lại tiềm thức của bạn

Có nhiều cách khác nhau để ghi đè lên các thông điệp giới hạn hoặc gây tổn hại được lưu trữ trong tiềm thức của bạn.

Bạn có thể làm việc đồng thời với tất cả các chiến lược này, nhưng sẽ hiệu quả hơn nhiều nếu bạn chỉ chọn một hoặc hai phương pháp để bắt đầu. Bạn muốn cung cấp cho họ toàn bộ sự chú ý của bạn thay vì bỏ qua và làm loãng nỗ lực của bạn.

Hãy nhớ rằng, bạn luôn có thể kết hợp các kỹ thuật bổ sung theo thời gian.

Ảnh hưởng môi trường

Bạn đã bao giờ xem xét ảnh hưởng của môi trường của bạn đến tiềm thức của bạn?

Hãy nhớ rằng tiềm thức của bạn đang tiếp thu thông tin liên tục và đưa ra kết luận và hình thành niềm tin dựa trên thông tin đó.

Nếu môi trường hàng ngày của bạn bị ảnh hưởng bởi sự tiêu cực và xung đột, hãy tưởng tượng những loại thông điệp nào đang được hấp thụ trong tâm trí bạn.

Hành động đầu tiên của bạn là hạn chế nghiêm ngặt những tiêu cực mà bạn tiếp xúc từ thời điểm này trở đi.

Tránh xem tin tức trừ khi bạn hoàn toàn phải, và tránh dành quá nhiều thời gian với những người ‘độc hại’.

Thay vào đó, hãy tìm kiếm thông tin tích cực để đọc và xem , và dành phần lớn thời gian của bạn với những người tích cực, thành công.

Theo thời gian, bạn sẽ thấy rằng những thông điệp khích lệ hơn đang được hấp thụ vào tâm trí bạn, điều này sẽ thay đổi cách bạn nhìn nhận bản thân và tiềm năng của mình.

Hình dung

Tiềm thức của bạn đáp ứng tốt với hình ảnh.

Hình dung là một cách tuyệt vời để lập trình tâm trí của bạn với hình ảnh tích cực, trao quyền.

Hãy thử dành 10 phút 15 phút mỗi ngày để hình dung những cảnh tích cực có tính năng bạn và trải nghiệm cuộc sống của bạn.

Dưới đây là một số điều bạn có thể muốn hình dung:

  • Mối quan hệ bền vững
  • Đam mê công việc
  • Một ngôi nhà đẹp
  • Kỳ nghỉ kỳ lạ
  • Bất cứ điều gì khác bạn muốn rút vào cuộc sống của bạn

Khi bạn làm điều này một cách nhất quán, cuối cùng bạn sẽ vẽ lại những hình ảnh tiêu cực được lưu trữ từ những kinh nghiệm, nỗi sợ hãi, lo lắng và nghi ngờ trong quá khứ của bạn.

Để tăng sức mạnh của hình ảnh hơn nữa, hãy chắc chắn phát ra những cảm xúc mạnh mẽ, tích cực trong khi bạn hình dung những điều tuyệt vời này trong tâm trí của bạn.

Cho phép cảm giác của tình yêu, niềm vui, lòng biết ơn và sự bình yên đến với bạn như thể bạn đang thực sự có những trải nghiệm này.

Tiềm thức của bạn sẽ hấp thụ các thông điệp như thể chúng là thật!

Đây là vẻ đẹp thực sự của trực quan hóa – sức mạnh để vượt qua các thông điệp giới hạn và tập trung vào hình ảnh làm hài lòng, tất cả chúng đang được hấp thụ ngay vào tiềm thức của bạn để được phát lại sau đó.

Khẳng định

Khẳng định là một cách hiệu quả khác để cài đặt các thông điệp tích cực vào tiềm thức của bạn.

Chúng hoạt động tốt nhất nếu bạn tuân theo một vài quy tắc đơn giản:

  • Từ họ tích cực, ở thì hiện tại. Nói rằng tôi là một người bình thường và thành công, chứ không phải là tôi, tôi sẽ thành công và thành công bởi vì tập trung vào một điều kiện trong tương lai không tính toán với tiềm thức của bạn – nó chỉ biết vào lúc này . Ngoài ra, sử dụng các tuyên bố tích cực. Nói rằng tôi không phải là người thất bại, được tính là một người thất bại vì tiềm thức của bạn không thể xử lý tiêu cực.
  • Gọi lên những cảm xúc tương ứng. Nói rằng tôi là người giàu có trong khi cảm thấy nghèo chỉ gửi những thông điệp liên quan đến tiềm thức của bạn. Bất cứ lời nào bạn nói vào lúc đó, hãy cố gắng cảm nhận những cảm xúc tương ứng bởi vì tiềm thức của bạn sẽ có nhiều khả năng để tin vào điều đó.
  • Lặp lại, lặp lại, lặp lại. Khẳng định không hoạt động nếu bạn nói chúng chỉ một hoặc hai lần. Đọc chúng nhiều lần trong ngày để có kết quả tốt nhất. Điều tốt về điều này là bạn có thể nói những lời khẳng định với chính mình, vì vậy họ không thể liên tục vào thói quen của bạn.

Nhịp tim hai bên

Một phương pháp phổ biến khác là sử dụng các bản ghi âm thanh cố tình thay đổi tần số sóng não của bạn.

Nghe có vẻ giống như một bộ phim khoa học, nhưng báo cáo từ những người đã thử các chương trình âm thanh này là cực kỳ tích cực.

Sóng não của bạn rơi vào một tần số cụ thể tùy thuộc vào những gì bạn đang làm tại bất kỳ thời điểm nào:

  • Gamma khi bạn tham gia vào một số chức năng của động cơ
  • Beta khi bạn hoàn toàn tỉnh táo và tích cực tập trung
  • Alpha khi bạn thư giãn
  • Theta khi bạn buồn ngủ hoặc ngủ nhẹ
  • Delta khi bạn đang ngủ say

Kết quả nhịp đập của Binaural khi kết hợp hai âm thanh được phát ở các tần số khác nhau, kích hoạt sóng não của bạn theo một mô hình khác nhau.

Ví dụ: nếu bạn muốn chuyển từ căng thẳng sang thư giãn, bạn sẽ nghe một âm thanh kích hoạt trạng thái alpha.

Những chương trình âm thanh này có thể giúp bạn lập trình lại tiềm thức của bạn bằng cách,

tạo ra một diễn đàn dễ tiếp nhận hơn để cài đặt các thông điệp tích cực.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiềm thức của bạn dễ tiếp nhận thông tin mới hơn khi bạn rất thoải mái, chẳng hạn như ở trạng thái alpha hoặc theta.

Sử dụng các chương trình âm thanh não bộ cùng với sự khẳng định hoặc hình dung có thể là một sự kết hợp mạnh mẽ, bởi vì tiềm thức của bạn giảm khả năng phòng thủ của nó để nó có thể dễ dàng tiếp thu bất kỳ thông điệp nào bạn muốn lập trình.

Đơn giản chỉ cần thư giãn và tập trung vào hình ảnh tích cực!

Thôi miên

Thôi miên có thể có hiệu quả tương tự như các chương trình tập trung vào não, ngoại trừ việc không sử dụng tần số thay đổi sóng não.

Thay vào đó, nhà thôi miên dần dần nói chuyện với bạn về trạng thái thoải mái và dễ tiếp thu hơn và mang đến những thông điệp tích cực, đầy sức mạnh cho tiềm thức của bạn.

Tự thôi miên là một lựa chọn phổ biến khác – bạn chỉ cần sử dụng các chương trình âm thanh được ghi sẵn thay vì phiên thôi miên trực tiếp. Bạn thậm chí có thể ghi đĩa CD tự thôi miên của chính mình để bạn nghe giọng nói của chính mình đọc những lời khẳng định tích cực trong khi bạn đang ở trạng thái thư giãn.

Làm thế nào để biết nếu nỗ lực lập trình lại của bạn đang làm việc

Một trong những khía cạnh thách thức nhất của việc lập trình lại tiềm thức của bạn là bạn không thể nhìn vào bên trong và xem những gì vẫn còn có thể cần phải thay đổi.

Thay vào đó, bạn sẽ phải phát triển ý thức mạnh mẽ về nhận thức bản thânđể bạn có thể bắt gặp hành vi tự phá hoại trước khi nó ra khỏi tầm tay.

Mặc dù vậy, vẫn còn một số dấu hiệu tiến bộ rõ ràng mà bạn có thể nhận ra:

  • Bạn bắt đầu cảm thấy mạnh mẽ hơn, thoải mái hơn và hạnh phúc hơn.
  • Bạn sẵn sàng chấp nhận rủi ro và đối mặt với thử thách.
  • Ước mơ và mục tiêu của bạn dường như không còn quá sức nữa – thật thú vị.
  • Bạn cảm nhận được một cảm giác sâu sắc hơn về sự bình an nội tâm, như thể những điều kiện bên trong đang tan biến.
  • Bạn thu hút nhiều cơ hội hơn để mở rộng và phát triển trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

Nói ngắn gọn,

bạn sẽ biết khi nào những thay đổi đang diễn ra trong tiềm thức của bạn bởi vì bạn sẽ nhận thấy sự thay đổi ở cả bên trong và bên ngoài của bạn.

Bằng chứng thường là không thể phủ nhận!

Củng cố nhất quán, liên tục

Điều quan trọng là cung cấp cho quá trình lập trình lại thời gian này để làm việc.

Đừng mong đợi để thấy những thay đổi ngay lập tức – đôi khi điều đó có thể xảy ra, nhưng thường thì mất nhiều thời gian hơn.

Hãy rất kiên định và kiên trì với các phương pháp bạn chọn để cài đặt các thông điệp tích cực hơn vào tiềm thức của bạn.

Ngay khi những biến đổi này trở nên rõ ràng, bạn sẽ cảm thấy có động lực để tiếp tục tiến về phía trước,

nhưng cho đến khi điều đó xảy ra,

gắn bó với nó và biết rằng những thay đổi này là suốt đời, mạnh mẽ và rất đáng để chờ đợi!