Ebook huyệt dược hối thông

Tôn Tử Minh từng nói:

“Những việc châm mà không đạt cứu, cứu mà không đạt châm, phương lương y đã châm cứu nhưng không đạt được, đạt được mà không châm cứu, vẫn phi lương y đã.”

Qua đó làm rõ trên lâm sàng biện chứng nên châm thì châm, nên cứu phải cứu, nên dùng dược phải dùng dược. Nếu như châm cứu mà bệnh không đỡ, dùng dược mà không tới đích, không thể cứu cấp chứng trạng, thì châm cứu và dược đồng dùng, dùng châm cứu và dược phối hợp điều trị mới đạt được mục đích điều trị toàn diện.

Cổ nhân viết:

“Thang dược công kỳ nội, châm cứu công kỳ ngoại, tật bệnh vô sở đào hình.”
Nhưng muốn tinh thông châm cứu, thông linh dược, không phải là chuyện dễ, đặc biệt là những bước đi ban đầu, hướng tới đối với bệnh tính chuyển biến phức tạp nhất thời có dùng châm dược kết hợp để đạt hiệu quả cao cũng là chuyện khó nói được.

Dược tính và huyệt tính là lý luận cơ bản trên lâm sàng cũng như giữa phương dược và phối huyệt. Tuy rằng cổ nhân để lại cho chúng ta những kinh nghiệm vô cùng quý báu, nhưng nếu chỉ dựa vào đó thì mãi mãi là không đủ. Từ những tinh hoa lý luận, huyệt tính và dược tính, lợi dụng đồng thời châm cứu, dược tính và huyệt tính từng bước nắm chắc những điểm tương đồng về tính năng và công hiệu, liên đến thành lập phương huyệt, phương dược, vận dụng lâm sàng phối kết hợp, từng bước nâng cao sức đề kháng của cá thể mới là ý nghĩa quan trọng của cuốn sách.

Châm cứu liệu pháp và trung dược liệu pháp là một chỉnh thể không thể tách rời trong lý luận cơ bản của y học cổ truyền. Tuy nói là hai pháp trị liệu khác nhau, nhưng xét trên phương diện lý luận biện chứng, từ bệnh sở (vị trí bị bệnh), bệnh nhân (nguyên nhân gây bệnh), bệnh thái, phân loại mà phân tích lại có rất nhiều điểm tương đồng.

“Linh khu – Kinh mạch biện” chỉ ra:
“Thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi, nhiệt tắc tả chi, hàn tắc lưu chi, hãm hãm tắc cứu chi, bất thịnh bất hư dĩ kinh thủ chi.”
Lại trong “Cứu châm thập nhị nguyên” chỉ ra:
“Uyên trần tắc trừ chi”,
chính là phép tắc cơ bản trong châm cứu trị liệu.

Từ kinh văn có thể thấy, trị pháp không chỉ căn cứ vào hư – thực, hàn – nhiệt quyết định, mà còn cần truy cầu bệnh chứng hư – thực hiệp tạp, phân kinh cùng với thuộc tính kinh lạc và mối quan hệ tương hỗ không giống nhau của âm dương biểu lý. Vì vậy có sự khác nhau cơ bản giữa châm cứu và dược, nhưng lại giống nhau ở cương lĩnh bắt cương. Từng bước làm rõ giữa châm cứu trị liệu và trung dược liệu pháp có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ mật thiết.

Cuốn sách là sự tích lũy không ngừng trên lâm sàng thực nghiệm, phản biện từ những huyệt vị và vị thuốc thường dùng về phân loại trị bệnh, quy kinh, công hiệu dẫn tới những xử phương lâm sàng ứng dụng; về phương diện trình bày theo hướng phân tích, so sánh, đối chiếu. Hy vọng mang lại cho người đọc những hiểu biết về sự tương đồng cũng như tương cận về công hiệu của các huyệt vị và vị thuốc.

Bệnh nhân nam, 58 tuổi, sốt cao đột ngột, liệt nửa người trái, mặt miệng méo lệch, khó nói, lưỡi cứng, thần chí hôn mê, cấp bách đưa tới bệnh viện Thạch Gia Trang, được chẩn đoán tắc mạch não dẫn tới liệt hành tuỷ, mất phản xạ nuốt. Truyền dịch và châm cứu những huyệt thường dùng đều không có tác dụng, đặt sonde dạ dày để duy trì sự sống.

Từ Thạch Gia Trang xuất viện, bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện thận, được chẩn đoán: Trung phong, can phong hiệp đàm, phong trúng tạng phủ. Phương châm cứu: châm một huyệt sâu vào khoang miệng, chích máu có khả năng trị được bệnh.

Trước sự cầu cứu của người nhà, bác sĩ cải tiến đạn hoàng (tạm dịch lỗ xo) làm công cụ xác định vị trí rồi dùng kim phi châm (một loại kim, tìm hiểu thêm ở “Nội kinh – Linh khu – Cứu châm thập nhị nguyên”), sau đó dùng bông cầm máu, tại vùng sau cổ họng lấy huyệt, châm sâu 1,5 thốn, chích máu. Sau khi máu chảy một lượng phù hợp thì lập tức dùng bông và thuốc cầm máu.

Sau đó không lâu, bệnh nhân có chuyển biến thần trí tỉnh trước sự kinh ngạc của người nhà. Bài trong sách không ghi chép, nên tác giả gọi đó là “Yết thông” huyệt, đồng âm với tên bệnh nhân là “Điền Trung”.

Từ ngày thứ hai, bệnh nhân bắt đầu ăn uống được, sau đó cho dùng thuốc như:
Chế bán hạ, Thiên trúc hoàng, Tuyền phù hoa, Thạch xương bồ, Trần đàm nam tinh, Ôi thiên ma… không bao lâu thì phục hồi.

Trên đây là một ví dụ điển hình bệnh án châm dược kết hợp. Cuốn sách lược lâm sàng ứng dụng gần 300 phương châm cứu và phương dược, tham khảo các bác sĩ lâm sàng vận dụng châm dược kết hợp. Những tổ phương đa phần dựa vào những nghiên cứu từ các triều đại, có ứng dụng hiệu quả trên lâm sàng hoặc từ những người đi trước mang lại hiệu quả tốt, và từ những công trình nghiên cứu.

Điều quan trọng trong điều trị YHCT chính là biện chứng. Cuốn sách mang đến góc nhìn và giới thiệu những phương huyệt cũng như phương dược nhưng cần chuyên cần nghiên cứu cũng như linh hoạt vận dụng. Bản thân kinh nghiệm và năng lực còn nhiều hạn chế, ngôn bất tận ý, trong cuốn sách không tránh khỏi những sai sót, kính mong các quý vị độc giả góp ý.

Vương Chương Lộc
7 / 2008


Chia sẻ ý kiến của bạn

Điền thông tin của bạn vào các trường bên dưới để gửi bình luận.